Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quan hệ Trung Quốc – Hoa Kỳ tại khu vực Đông Nam Á từ năm 2016 đến nay Chương 2: Thực trạng quan hệ cạnh tranh Trung Quốc và Hoa Kỳ tại Đông Nam Á từ năm 2016 đến nay Chương 3: Tác động của cạnh tranh Trung Quốc và Hoa Kỳ tới khu vực Đông Nam Á và Việt Nam - dự báo chiều hướng cạnh tranh thời gian tới 5 PHÄN NÞI DUNG CH£¡NG 1 NHþNG VÂN ĐÀ LÝ LUÀN VÀ THĀC TIàN TRONG QUAN Hâ GIþA TRUNG QUÞC VÀ HOA Kþ T¾I KHU VĀC ĐÔNG NAM Á 1. Mßt sß vÃn đÁ lý luÁn vÁ quan hã qußc t¿ 1. Một số khái niệm, lý thuyết về quan hệ quốc tế 1.1 Khái niệm về quan hệ quốc tế Trong quá trình tham gia cāa các chā thể vào đßi sống chính trị quốc tế vì mÿc tiêu quốc gia, khu vực và quốc tế, những quan hệ chính trị quốc tế từng bước được xác lập và phát triển. Quan hệ chính trị quốc tế có cơ sá từ quan hệ chính trị quốc gia, những quan hệ được thiết lập trước hết do việc thực hiện các chính sách đối nội ra phạm vi quốc tế, chính sách đối ngoại được xác lập và từng bước được thực hiện, theo đó những quan hệ chính trị quốc tế cũng được xác lập.
Việc hoạch định và thực hiện chính sách đối nội và chính sách đối ngoại ph¿n ánh sự chín muồi về mặt chính trị cāa mỗi nhà nước. Các chā thể chính trị quốc tế, mà quan trọng nhÁt là nhà nước cāa các quốc gia có chā quyền, tham gia vào công việc chính trị quốc tế chā yếu thông qua việc hoạch định và thực thi hệ thống chính sách đối nội và đối ngoại. Bái vậy, có thể coi chính trị quốc tế là sự tiếp tÿc hoạch định và thực thi chính sách đối nội cāa các quốc gia trên phạm vi quốc tế; quan hệ chính trị quốc tế là kết qu¿ cāa việc hoạch định và thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại cāa quốc gia. Quan hệ quốc tế là phạm trù lịch sử, là s¿n phẩm cāa quá trình phát triển xã hội loài ngưßi.
Khi giai cÁp, dân tộc xuÁt hiện, chính trị (mà biểu hiện tập trung á nhà nước) hình thành và từng bước khẳng định vai trò to lớn cāa mình trong tiến trình phát triển cāa lịch sử nhân loại. Trong xã hội có giai cÁp, giao cÁp thống trị, thông qua chức năng đối nội và đối ngoại cāa nhà nước khẳng định vai trò cāa mình, đồng thßi má rộng sự ¿nh hưáng vượt khỏi phạm vi quốc gia. Bái thế, chính quan hệ chính trị quốc tế từng bước được 6 xác lập, phát triển và biến đổi. à mỗi thßi kỳ lịch sử nhÁt định, quan hệ chính trị quốc tế có những đặc trưng khác nhau, song xuyên suốt vẫn là quan hệ chịu sự chi phối bái các nước lớn.
Trong xã hội đương đại, quan hệ quốc tế ph¿n ánh và là biểu hiện tập trung cāa quan hệ kinh tế quốc tế và cāa đßi sống chính trị quốc tế. Mặc dù trong đßi sống chính trị quốc tế không còn tồn tại một chính phā thế giới, song quan hệ chính trị quốc tế lại bị chi phối bái một tổ chức có qui mô lớn nhÁt hành tinh là Liên hợp quốc. Tuy nhiên, quan trọng nhÁt vẫn là cơ chế tác động cāa các quốc gia. Quan hệ quốc tế là quan hệ n¿y sinh, hình thành và phát triển do sự tác động qua lại giữa các chā thể chính trị quốc tế, trước hết và quan trọng nhÁt là các quốc gia và các tổ chức quốc tế, trong qúa trình tham gia vào đßi sống chính trị quốc tế vì mÿc đích, lợi ích quốc gia, khu vực và quốc tế.2 Các lý thuyết quan hệ quốc tế Các lý thuyết quan hệ quốc tế gi¿i thích các quốc gia có quan hệ với nhau như thế nào trong nền chính trị quốc tế, nó bao gồm việc gi¿i thích hành vi chính sách đối ngoại trong nhiều lý thuyết quan hệ quốc tế.
Thật vậy, mọi nỗ lực làm rõ các mối quan hệ quốc tế hầu hết đều liên quan tới việc gi¿i thích chính sách đối ngoại. Đa số các lý thuyết quan hệ quốc tế, nếu không muốn nói là tÁt c¿, đều tập trung vào tác động cāa hệ thống quốc tế tới chính sách đối ngoại. Việc nghiên cứu, đánh giá và có một cái nhìn súc tích về lý thuyết quan hệ quốc tế sẽ giúp làm rõ hơn vị trí cāa chính sách đối ngoại trong bối c¿nh cāa lĩnh vực nghiên cứu quan hệ quốc tế. Thứ nhÁt, lý thuyết hiện thực.
Các lý thuyết hiện thực về quan hệ quốc tế có đặc trưng là dựa vào các gi¿ định về tình trạng vô chính phā và tự cứu, và nhận thức về các quốc gia như là những chā thể đơn nhÁt và duy lý. Theo đó, các nhà hiện thực cho rằng để tồn tại, quốc gia cần ph¿i nỗ lực tối đa hóa sức mạnh cāa mình. Thứ hai, lý thuyết tự do. Mặc dù những biến thể cāa chā nghĩa tự do có 7 chung một vài gi¿ định với chā nghĩa hiện thực, nhưng các nhà tự do khác với các nhà hiện thực á chỗ đối với họ, hệ thống quốc tế về b¿n chÁt là thuận lợi cho sự hợp tác.
Theo các lý thuyết tự do về quan hệ quốc tế, hợp tác với nhau b¿n thân nó chính là lợi ích cāa các quốc gia. Thứ ba, lý thuyết kiến tạo. Thuyết kiến tạo cho rằng thế giới có cÁu trúc xã hội, được tạo ra bái những động lực vật chÁt và ý tưáng. Các quốc gia với tư cách là những chā thể có tính xã hội đánh giá, nhận thức về tình hình thế giới dựa trên đặc thù lịch sử, văn hóa, xã hội trong từng quốc gia đó.
Tương tự như vậy, qua một quá trình tương tác, các quốc gia tự hình thành lên những nhận thức chā quan, về b¿n sắc cāa mình, về các nước khác và về các thể chế/tổ chức quốc tế. Thuyết kiến tạo tốt nhÁt nên được gọi là một cách tiếp cận hơn là một lý thuyết về quan hệ quốc tế. Đặc trưng và tính quy luật của quan hệ chính trị quốc tế 1. Đặc trưng của quan hệ chính trị quốc tế Thứ nhÁt, quan hệ chính trị quốc tế là mối quan hệ phức tạp, nhiều chiều, nhiều lĩnh vực, được xem xét từ nhiều khía cạnh, đan xen nhiều sự kiện, nhiều quá trình.
Hình thức, nội dung các mối quan hệ cũng như nguyên nhân, hậu qu¿ cāa nó không ph¿i khi nào cũng có thể lưßng trước được. Do vậy việc mô t¿, phân tích, gi¿i thích các mối quan hệ chính trị quốc tế không được quá nhÁn mạnh vào thuyết nhân qu¿, hoặc thuyết định mệnh, mà cần có cách nhìn nhận tổng hợp từ nhiều góc cạnh, thậm chí không loại trừ c¿ yếu tố ngẫu nhiên. Thứ hai, chủ thể quan hệ chính trị quốc tế ngày càng phong phú, đa dạng và có vai trò đa chiều trong đời sống chính trị quốc tế. Quốc gia có vai trò chā đạo và không thể phā định được trong quan hệ chính trị quốc tế.
B¿n chÁt cāa nền chính trị thế giới là mối quan hệ giữa các quốc gia, là đÁu tranh không khoan nhượng vì lợi ích cāa quốc gia. Tuy nhiên, trong thế giới ngày nay xuÁt hiện nhiều chủ thể quan hệ chính trị mới, phi truyền thống, chủ thể "ngoài chủ quyền", ngoài quốc gia. Đó là các tổ chức 8 quốc tế liên chính phā và phi chính phā, các tập đoàn kinh tế, tài chính, các công ty xuyên quốc gia, các tập đoàn truyền thông, các nhóm cá nhân, các cộng đồng dân tộc, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức không chính thức, bÁt hợp pháp (kể c¿ các tổ chức tội phạm, maphia, khāng bố.), các lãnh tÿ, cá nhân.Các nhà nước đang mÁt dần quyền kiểm soát hoạt động xuyên quốc gia cāa các chā thể này. Nhiều khi, hoạt động cāa các chā thể này vi phạm nguyên tắc cao nhÁt cāa quan hệ chính trị quốc tế - chā quyền quốc gia.
Do vậy, sự độc quyền cāa quốc gia trong quan hệ chính trị quốc tế đang dần bị phá vỡ bÁt chÁp các nỗ lực và cố gắng cāa các chính phā. Vai trò cāa các chā thể phi quốc gia đang ngày càng lớn mạnh và chính sách đối với các chā thể này không thể xây dựng trên cơ sá cách suy nghĩ truyền thống về chính sách đối ngoại, về ngoại giao nhà nước. Các khái niêm cơ b¿n gắn với quốc gia như an ninh, chā quyền, sức mạnh, lực lượng, cân bằng lực lượng. cần ph¿i được điều chỉnh và áp dÿng một cách linh hoạt trong quan hệ với các chā thể ngoài quốc gia.
Thứ ba, cách thức ứng xử của các chủ thể quan hệ chính trị quốc tế phụ thuộc vào đặc điểm của đời sống chính trị thế giới. Cách ứng xử cāa các quốc gia trong quan hệ chính trị quốc tế luôn phÿ thuộc vào sự tương quan và phân bố lực lượng giữa các nước trên thế giới, trước hết là giữa các cưßng quốc lớn, vào đặc điểm cāa cÿc các chā thể quan hệ chính trị quốc tế có ¿nh hưáng và tác động đến chiều hướng phát triển các mối quan hệ chính trị quốc tế, đến cách thức gi¿i quyết các vÁn đề quốc tế và khu vực. Do đó, nhận thức đúng đắn đắn đặc điểm cāa hệ thống chính trị và dự báo chính xác sự vận động cāa đßi sống quốc tế là điều kiện quan trọng để xác định đúng đưßng lối phát triển cāa mỗi quốc gia. CÁu trúc hệ thống chính trị quốc tế bao gồm ba mô hình cơ b¿n: một cực đa cực và hai cực.Trong hệ thống thế giới hai cự, hai quốc gia hùng mạnh nhÁt thống trị thế giới, tính chÁt cāa quan hệ chính trị quốc tế phÿ thuộc rÁt lớn vào tính chÁt quan hệ giữa hai quốc gia này.
Chúng chi phối hoạt động và 9 tính chÁt quan hệ giữa các quốc gia khác và luôn tìm cách thu hút các quốc gia đó về bên mình. Trong hệ thống thế giới đa cực, các quốc gia lớn (các cực) đều có ¿nh hưáng quốc tế ngang nhau và tác động ngang nhau đến quá trình chính trị thế giới. Sự lớn mạnh vượt trội cāa một quốc gia, hơn hẳn các quốc gia còn lại sẽ dẫn đến sự hình thành hệ thống thế giới một cực với trung tâm là quốc gia còn lại sẽ dẫn đến sự hình thành hệ thống thế giới một cực với trung tâm là quốc gia đế chế và các quốc gia vệ tinh. Lịch sử quan hệ chính trị quốc tế đã từng tr¿i qua các thßi kỳ một cực, đa cực, hai cực.