Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ ẤN ĐỘ 1.1 Khái quát về thương mại hàng hóa quốc tế 1.1 Khái niệm và các hình thức của thương mại hàng hóa quốc tế 1.1 Khái niệm thương mại hàng hóa quốc tế Ngày nay, thương mại quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tổng thể nền kinh tế thế giới cũng như đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Thương mại quốc tế (TMQT) là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế trong đó diễn ra sự mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ hoặc các tài sản trí tuệ giữa các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế (Bùi Thị Lý, 2010, tr. Về mặt hình thức, thương mại quốc tế có nhiều hình thức đa dạng bao gồm: thương mại hàng hóa quốc tế, đầu tư quốc tế, quan hệ tài chính quốc tế… Trong đó, thương mại hàng hóa quốc tế là hình thức phổ biến nhất trong quan hệ thương mại giữa các các quốc gia. Từ đó ta hiểu “Thương mại hàng hóa quốc tế là hình thức thương mại trong đó diễn ra sự mua bán trao đổi các sản phẩm, hàng hóa thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình.” (Bùi Thị Lý, 2010, tr.
Thương mại hàng hóa quốc tế phản ánh sự cân bằng giữa nguồn cung và cầu hàng hóa của mỗi quốc gia và toàn thế giới cũng như thể hiện xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay.2 Các hình thức của thương mại hàng hóa quốc tế Thương mại hàng hóa quốc tế bao gồm các hình thức sau: Xuất nhập khẩu trực tiếp Xuất nhập khẩu trực tiếp là hình thức xuất nhập khẩu mà trong đó các doanh nghiệp xuất khẩu quốc tế trực tiếp bán hoặc mua sản phẩm thông qua các bộ phận xuất nhập khẩu của mình (Đàm Quang Vinh, 2012, tr. Ủy thác xuất nhập khẩu Ủy thác xuất nhập khẩu là hình thức trong đó đơn vị được cấp giấy phép xuất nhập khẩu không có điều kiện đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện hợp đồng mua bán mà phải ủy thách cho đơn vị khác có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu tiến hành hộ. Đơn vị giao ủy thác phải trả một khoản hoa hồng cho đơn vị nhận ủy thác 5 theo một tỉ lệ nhất định đã được thỏa thuận trong một hợp đồng gọi là phí ủy thác (Đàm Quang Vinh, 2012, tr. Hoạt động xuất nhập khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hóa giao đi có giá trị tương đương với lượng hàng hóa nhập về.
Ở đây, mục đích xuất khẩu không phải nhằm mục đích thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương (Đàm Quang Vinh, 2012, tr. Hoạt động xuất nhập khẩu theo hình thức gia công quốc tế Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên – bên nhận gia công nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao gọi là phí gia công (Phạm Duy Liên, 2012, tr. Hoạt động xuất nhập khẩu theo Nghị định thư Hoạt động xuất nhập khẩu theo Nghị định thư là hình thức xuất nhập khẩu mà Chính phủ giữa các bên đàm phán, ký kết với nhau những văn bản, hiệp định, nghị định về trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Và việc đàm phán ký kết này vừa mang tính chất kinh tế vừa mang tính chất chính trị.
Trên cơ sở những nội dung được ký kết, Nhà nước xây dựng kế hoạch và giao cho một số doanh nghiệp thực hiện (Phạm Duy Liên, 2012, tr. Một số loại hình xuất khẩu khác: Tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập là việc xuất (nhập) khẩu trở lại nước ngoài những hàng hóa trước đây đã nhập (xuất) khẩu về nước nhưng chưa hề qua gia công chế biến, cải tiến, lắp ráp. Quá cảnh hàng hoá là viêc hàng hóa của một nước được gửi đi tới một nước thứ ba qua lãnh thổ Việt Nam, có sự cho phép của Chính phủ Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam nếu có đủ các điều kiện như quy định của Nhà nước Việt Nam có thể được xem xét thực hiện dịch vụ này để tăng thêm thu nhập.
Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng hóa của một nước (nước xuất khẩu) bán cho nước khác (gọi là nước nhập khẩu) mà không làm thủ tục xuất nhập khẩu.2 Các nguyên tắc cơ bản trong thương mại hàng hóa quốc tế Để đảm bảo tính hiệu quả và cân bằng giữa quyền và lợi ích của các bên tham gia vào thương mại quốc tế, Tổ chức thương mại quốc tế WTO đã ban hành các nguyên tắc cơ bản sau: 1.1Nguyên tắc thương mại không phân biết đối xử Nguyên tắc này được cụ thể hoá trong hai nguyên tắc là đãi ngộ tối huệ quốc và và đãi ngộ quốc gia: - Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) là nguyên tắc quan trọng nhất của WTO, còn được gọi là nguyên tắc “nước được ưu đãi nhất”. Theo nguyên tắc này nếu một quốc gia thành viên dành cho một quốc gia thành viên khác một sư đãi ngộ hay miễn trừ về các lĩnh vực thương mại, thuế quan, vận tải và địa vị pháp lý công dân, thì cũng phải dành cho tất cả các quốc gia thành viên còn lại đãi ngộ và miễn trừ đó. Hay nói cách khác, những lợi ích, ưu đãi, miễn giảm và đặc quyền mà các thành viên áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu từ nước khác phải được áp dụng vô điều kiện và ngay lập tức từ các nước thành viên khác. Vì vậy, nguyên tắc này giúp hạn chế việc các quốc gia phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình.
- Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT) còn được gọi là nguyên tắc “ngang bằng dân tộc “. Nội dung của nguyên tắc như sau: các bên tham gia trong quan hệ kinh tế thương mại cam kết dành cho hàng hóa nước kia những ưu đãi trên thị trường nội địa giống như những ưu đãi dành cho hành hoa, công dân hoặc công ty nước mình. Vì vậy nguyên tắc NT không cho phép các quốc gia thành viên có sự phân biệt đối xử không bình đẳng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá nội địa, tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa hàng hóa trong nước và ngoài nước.2 Nguyên tắc tự do thương mại và nỗ lực tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng Mục tiêu cơ bản của WTO là thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại, tức là thương mại giữa các quốc gia ngày càng tự do hơn bằng cách tháo bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan giữa các quốc gia. Để thực hiện nguyên tắc này WTO có chức năng tổ chức thực hiện các cuộc đàm phán đa phương để các quốc gia thành 7 viên có thể liên tục thỏa thuận về các biện pháp cắt giảm và tiến tới tháo bỏ hoàn toàn mọi trở ngại thuế quan và phi thuế quan.
Bản chất của nguyên tắc này mở cửa thị trường quốc gia cho hàng hoá, dịch vụ và đầu tư của nước ngoài. Ý nghĩa của nguyên tắc này thể hiện ở việc thông qua cạnh tranh lành mạnh chất lượng hàng hoá ngày càng được nâng cao cùng với năng suất lao động. Một khía cạnh nữa của nguyên tắc này đó là sự giản thiểu tối đa sự can thiệp của nhà nuớc vào hoạt động thương mại bằng các hình thức như trợ giá, bù lỗ.3 Nguyên tắc minh bạch ổn định trong thương mại Bằng nguyên tắc này WTO quy định các nước thành viên có nghĩa vụ phải bảo đảm tính ổn định rõ ràng và có thể dự báo được trong thương mại quốc tế, có nghĩa là các chính sách, luật pháp về thương mại quốc tế phải rõ ràng, minh bạch, phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng cho thương mại quốc tế. Ví dụ các quốc gia không thể đơn phương tăng thuế nhập khẩu, mà chỉ có thể tăng thuế nhập khẩu sau đã tiến hành đàm phán lại và đã đền bù thỏa đáng cho lợi ích của các bên bị thiệt hại do chính sách tăng thuế đó.
Tính dự báo được của các chính sách thương mại quốc tế của quốc gia, nhằm giúp các nhà kinh doanh nắm rõ tình hình thương mại quốc tế hiện tại cũng như trong tương lai gần để họ có thể áp dụng hay sẽ áp dụng những đối sách thích hợp. Nguyên tắc này tạo sự ổn định cho môi trường kinh doanh thương mại quốc tế.4 Nguyên tắc dành cho các nước đang phát triển và chậm phát triển những điều kiện thuận lợi hơn. Theo thông lệ chung và theo quy định WTO các quốc gia chậm phát triển là các quốc gia có thu nhập bình quân ít hơn 1000 USD /người/ năm. Các nước đang phát triển là các quốc gia có thu nhập từ 1000-6000USD/người/ năm.
Hiện nay 3/4 số thành viên của WTO là các quốc gia đang phát triển vì vậy một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO là dành những điều kiện đối xử đặc biệt cho các quốc gia này để khuyến khích phát triển và cải cách nền kinh tế của họ. Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện trong các ưu đãi sau: 8 - Hoãn lại thời gian thực hiện nghĩa vụ. Ví dụ các nước chậm phát triển được phép kéo dài 6 năm so với các nước phát triển trong việc mở cửa thị trường viễn thông cho cạnh tranh nước ngoài. - Được hưởng một số biện pháp trợ cấp cho xuất khẩu và nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng hàng nội địa, các biện pháp trợ cấp khác nhằm làm giảm giá thành sản phẩm nội địa và làm tăng giá thành của sản phẩm nhập khẩu (theo quy định của điều XVII Đãi ngộ đặc biệt đối với các nước đang phát triển trong thời gian 8 năm kể từ ngày gia nhập WTO được sử dụng các loại trợ cấp nói trên) hay hoàn toàn không áp dụng các quy định về trợ cấp xuất khẩu cho các nước chậm phát triển.
Theo nguyên tắc này các nước chậm phát triển và đang phát triển có thêm một thời gian quý báu để sắp xếp lại sản xuất, thay đổi công nghệ và áp dụng những biện pháp khác để tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm của mình.3 Vai trò của thương mại hàng hóa quốc tế đối với nền kinh tế 1.