CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI NỘI NGÀNH 1. Khái niệm Quan niệm truyền thống về thương mại quốc tế cho rằng một quốc gia sẽ xuất khẩu những hàng hóa phù hợp nhất với sự dồi dào các nhân tố sản xuất, trình độ công nghệ và điều kiện tự nhiên của quốc gia đó; trong khi nhập khẩu những hàng hóa ít phù hợp nhất với đặc điểm quốc gia của mình. Thương mại như vậy được gọi là thương mại liên ngành khi các quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu sản phẩm ở các ngành khác nhau. Tuy nhiên, có một thực tế là những hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu hàng đầu của hầu hết các nước phát triển lại là các hàng hóa tương tự nhau, chẳng hạn như ô tô chở khách, máy phát điện, van và bóng bán dẫn… Mở rộng hơn quan sát trên, thương mại trong phạm vi hẹp các ngành kinh tế, hay thương mại nội ngành, được tìm thấy mới là thứ chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại quốc tế.
Cụm từ "thương mại nội ngành" được đặt ra bởi nhà kinh tế Bela Balassa năm 1966 để gọi tên một hiện tượng đã được Verdoorn mô tả lần đầu tiên năm 1960. Khái niệm này trở nên phổ biến sau nghiên cứu năm 1975 của Grubel và Lloyd, ở đó, hai tác giả đã mô tả đặc điểm, các hình thức khác nhau, phương pháp đo lường, cũng như hàm ý cho lý thuyết về ngoại thương và chính sách kinh tế của thương mại nội ngành. Hai tác giả trên cũng đã đề xuất một định nghĩa được sử dụng rộng rãi hiện nay về thương mại nội ngành. Theo đó, thương mại nội ngành được hiểu là “giá trị xuất khẩu của một ngành trùng lắp với nhập khẩu của cùng ngành đó” (Grubel & Lloyd, 1975).
Nhờ đặc điểm cụ thể này, thương mại nội ngành còn được gọi là thương mại hai chiều giữa những hàng hóa tương tự nhau, trái ngược với thương mại một chiều giữa những hàng hóa khác nhau (thương mại liên ngành). Câu hỏi đặt ra là: ở góc độ thực nghiệm, thế nào là hàng hóa “tương tự” nhau? Grubel & Lloyd (1975) cũng đã xác định hai trường hợp cho “tương tự”, bao gồm những hàng hóa đồng nhất (tức là giống hệt nhau) về chức năng và những hàng hóa khác biệt nhưng thỏa mãn một số tiêu chí nhất định. Trong thực tế việc một quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu cùng một hàng hóa đồng nhất về chức năng chỉ diễn ra trong một số trường hợp cụ thể, mang tính chất không phổ biến, kéo theo đó quy mô của những hoạt động thương mại này thường khá nhỏ so với quy mô của hoạt động xuất nhập khẩu những hàng hóa khác biệt. Bảng 1 tóm tắt cách xác định này.
Phân loại hàng hóa tham gia vào thương mại nội ngành Các mặt hàng có yêu cầu đầu vào tương tự nhưng khả năng thay thế thấp trong quá trình (1) sử dụng thực tế (ví dụ: xăng và hắc ín; thanh thép và lá thép). Hàng hóa có khả năng thay thế cao trong quá trình sử dụng thực tế (ví dụ: đồ nội thất Hàng (2) bằng gỗ và thép; sợi nylon và len). hóa khác Các mặt hàng có yêu cầu đầu vào tương tự và khả năng thay thế cao trong quá trình sử biệt (3) dụng thực tế (ví dụ: ô tô Renault và Volkswagen). Các bộ phận, thành phần và sản phẩm cuối cùng được phân loại trong cùng một danh (4) mục thống kê Các sản phẩm đồng nhất về mặt chức năng được giao dịch trong các điều kiện cụ thể như: • tái xuất (chủ yếu là để giảm thiểu chi phí vận tải); Hàng • thương mại biên giới (buôn bán các sản phẩm đồng nhất về chức năng nhưng khác hóa nhau theo địa điểm); đồng • thương mại định kỳ (thương mại dựa trên những biến động định kỳ, có thể dự đoán nhất được trong sản xuất hoặc nhu cầu của các quốc gia đối với các mặt hàng như nông sản, điện hoặc các hàng hóa tương tự); • thương mại về các mặt hàng chiến lược (buôn bán các mặt hàng đồng nhất do các quy định của chính phủ) Nguồn: Tổng hợp của nhóm từ nghiên cứu của Grubel & Lloyd (1975) 1.
Phân loại Greenaway & cộng sự (1994) đề xuất phân chia sự khác biệt sản phẩm theo chiều ngang (Horizontal Intra-Industry Trade, viết tắt là HIIT) và chiều dọc (Vertical Intra- Industry Trade, viết tắt là VIIT). Thương mại nội ngành theo chiều ngang Thương mại nội ngành theo chiều ngang (HIIT) thể hiện việc trao đổi những hàng hóa có sự tương đồng nhau về chất lượng hay đặc điểm quan trọng khác đối với người tiêu dùng (như mùi vị hoặc màu sắc). HIIT cũng bao gồm các sản phẩm giống hệt nhau về công nghệ sản xuất nhưng được người mua cho là khác biệt, ví dụ như các loại thuốc aspirin được bán dưới các nhãn hiệu khác nhau. 8 HIIT không thể được giải thích bởi khung lý thuyết thương mại truyền thống với lợi thế so sánh mà thường được phân tích trong khung lý thuyết với giả định cạnh tranh độc quyền.
Ở phía cung, HIIT là kết quả của việc khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô (increasing returns to scale) của các doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền; trong khi đó từ phía cầu, HIIT được dẫn dắt bởi sự đa dạng trong sở thích của người tiêu dùng (ví dụ như sở thích về từng dòng ô tô ở cùng phân khúc và mức giá). Sự ưa thích của người tiêu dùng dành cho những sản phẩm đa dạng1 (love of variety) khuyến khích các nhà cung ứng chuyên môn hóa vào sản xuất một số sản phẩm nhất đinh, từ đó cắt giảm được chi phí trung bình nhờ lợi thế kinh tế theo quy mô. Khi các quốc gia mở cửa với thương mại quốc tế, sự đồng nhất trong cầu (người tiêu dùng ưa thích những sản phẩm tương tự nhau) sẽ dẫn đến thương mại nội ngành. Theo cách đó, người tiêu dùng cũng sẽ được hưởng lợi khi tiếp cận được với hàng hóa có giá rẻ hơn.
HIIT phổ biến giữa các quốc gia có cấu trúc sản xuất tương đối phát triển và tương đồng nhau trong sự dồi dào về các nhân tố sản xuất. Khả năng sản xuất những sản phẩm khác biệt cũng cho thấy sự phát triển ở trình độ cao của khu vực chế biến chế tạo ở những nước này, do đó, đây hầu như đều là những nước ở trình độ phát triển cao hơn. Ngoài ra, những nước phát triển có thu nhập cao cũng có tiềm năng lớn hơn cho cầu về những mặt hàng đa dạng. Với việc HIIT thường tương quan với sự tương đồng về mặt kinh tế giữa các quốc gia, sự gia tăng trong mức độ HIIT vì vậy ngụ ý rằng đang có một xu hướng hội tụ mang tính cấu trúc về kinh tế giữa những quốc gia đang xem xét này.
Thương mại nội ngành theo chiều dọc Khác với thương mại nội ngành theo chiều ngang, thương mại nội ngành theo chiều dọc (VIIT) là (1) sự trao đổi thương mại về những hàng hóa tương tự nhau nhưng khác biệt về phân khúc, chất lượng và giá cả ví dụ như Italia xuất khẩu quần áo có thương hiệu với chất lượng cao nhưng nhập khẩu quần áo có chất lượng thấp; hay (2) thương mại giữa hàng trung gian và hàng thành phẩm trong cùng một ngành công nghiệp, ví dụ như xuất khẩu ghế và nhập khẩu động cơ ô tô. Như vậy có thể thấy sự khác biệt sản phẩm theo chiều dọc là sự khác biệt về một/một số thuộc tính nhất định nào đó của sản phẩm. Sự khác biệt sản phẩm theo chiều dọc, vì vậy, là kết quả của các yếu tố từ phía cung do việc cải thiện chất lượng sản phẩm liên quan đến 1 Love of variety: ý tưởng cho rằng người tiêu dùng ưa thích, và thu được độ thỏa dụng cao hơn khi tiêu dùng nhiều nhãn hiệu khác nhau về cùng một hàng hóa có tính năng và chất lượng như nhau. 9 việc gia tăng số lượng hoặc chất lượng các yếu tố đầu vào, từ đó thay đổi chất lượng và giá của sản phẩm.
Ngược lại với sự khác biệt hóa sản phẩm theo chiều ngang, trong trường hợp VIIT, thị hiếu của người tiêu dùng là giống hệt nhau. Thực tế là những hàng hóa có chất lượng cao hơn thường có giá bán cũng cao hơn, và người tiêu dùng đều thường tìm kiếm những sản phẩm có chất lượng tốt nhất. Vì vậy, hành vi chọn lựa sản phẩm cụ thể nào của người tiêu dùng trong trường hợp VIIT thường được xác định bởi mức thu nhập của họ, chứ không phải do đặc điểm yêu thích sự đa dạng như trường hợp HIIT. Từ định nghĩa, ta thấy VIIT được xác định bởi chính các yếu tố giải thích thương mại liên ngành, tức là bởi (i) sự khác biệt giữa các quốc gia về giá cả các nhân tố sản xuất và mức độ dồi dào tương đối của các nhân tố này (mức độ phong phú tương đối của một yếu tố trong một quốc gia đi kèm với mức giá tương đối thấp của yếu tố); (ii) sự khác biệt về công nghệ; (iii) sự tồn tại lợi nhuận không đổi theo quy mô (chi phí đơn vị của hàng hóa không phụ thuộc vào sản lượng) (Caetano & Galego, 2007).
Chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào mức độ thâm dụng vốn tương đối, sản phẩm có tỷ lệ vốn trên lao động càng cao thì thường cũng có chất lượng càng cao. Do đó, quốc gia dồi dào vốn tương đối sẽ xuất khẩu các sản phẩm chất lượng cao, trong khi quốc gia dồi dào lao động tương đối xuất khẩu các sản phẩm chất lượng thấp hơn. Như vậy từ góc độ lý thuyết, VIIT được kỳ vọng sẽ rõ rệt hơn giữa các quốc gia ở các trình độ phát triển kinh tế khác nhau, tức là giữa các nền kinh tế đang phát triển và đã phát triển, hơn là giữa các quốc gia phát triển. Các nước kém phát triển hơn thường chuyên môn hóa vào các công đoạn sản xuất mà họ có lợi thế so sánh ví dụ như lao động giá rẻ, lao động phổ thông.
Những quốc gia này thường xuất khẩu hàng hóa thâm dụng lao động, trong khi nhập khẩu sản phẩm thâm dụng vốn từ các nước phát triển. Tầm quan trọng của thương mại nội ngành Tầm quan trọng của thương mại nội ngành xuất phát từ chính bản chất của mỗi dạng thức cụ thể của nó. Với HIIT, loại thương mại này không cần dựa trên cơ sở lợi thế so sánh. Như đã đề cập, HIIT là kết quả của việc khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô của các doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền; và được dẫn dắt bởi sự đa dạng trong sở thích của người tiêu dùng.