Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA CÁC QUỐC GIA 1. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA CÁC QUỐC GIA 1. Bản chất, hình thức và đặc điểm của phát triển quan hệ thương mại giữa các quốc gia 1. Bản chất của phát triển quan hệ thương mại giữa các quốc gia a) Thương mại quốc tế Về mặt lịch sử, TMQT ra đời sớm nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày nay nó vẫn giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, hiện có nhiều cách hiểu khác nhau về TMQT. Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng (2008, tr.33) định nghĩa TMQT là “việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau thông qua hoạt động mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới”. Cách hiểu này nhấn mạnh đến yếu tố quốc tịch để chỉ ra sự khác biệt giữa hoạt động thương mại trong nước và quốc tế. Theo Công ước Viên 1980, dấu hiệu về “lãnh thổ” của các bên tham gia QHTM quốc tế chứ không phải dấu hiệu về quốc tịch hay các dấu hiệu khác, sẽ được dùng để xác định tính “quốc tế” của hoạt động thương mại của các chủ thể.
Hoàng Đức Thân, Nguyễn Văn Tuấn (2018, tr.11) lại cho rằng TMQT là “quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận”. Trong khái niệm này, bản chất của TMQT được tác giả chỉ ra là quá trình phân phối, sử dụng tài nguyên giữa các chủ thể của nền kinh tế, giữa các quốc gia qua trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nguồn lực kinh tế nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng đa dạng của cư dân toàn cầu. Cơ sở của TMQT xuất phát từ yêu cầu mang tính khách quan trong sự phát triển và quốc tế hóa lực lượng sản xuất mà nền tảng của nó là phân công lao động và trao đổi lợi thế so sánh giữa các quốc gia. Về nội dung, TMQT bao gồm nhiều hoạt động khác nhau.
Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2008, tr.33), Hoàng Đức Thân, Nguyễn Văn Tuấn (2018, tr.18-19) đều thống nhất nội dung của TMQT gồm: 15 Thứ nhất, XNK hàng hóa hữu hình, với đối tượng trao đổi là máy móc thiết bị, lương thực thực phẩm, các loại hàng hóa tiêu dùng. Đây là nội dung chủ yếu, giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong TMQT. Thứ hai, XNK hàng hóa vô hình, với đối tượng trao đổi là các dịch vụ, tài sản trí tuệ (phát minh, sáng chế. Hoạt động này có xu hướng gia tăng về quy mô và tỷ trọng trong TMQT cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật trong thương mại.
Thứ ba, gia công quốc tế. Đây là hình thức cần thiết trong điều kiện phát triển của phân công lao động quốc tế và do sự khác biệt về điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia. Thứ tư, tái xuất và chuyển khẩu. Trong hoạt động tái xuất, người ta nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào rồi sau đó xuất khẩu sang một nước thứ ba.
Trong hoạt động này có cả mua, bán nên mức rủi ro có thể lớn và lợi nhuận có thể cao. Ngược lại, chuyển khẩu chỉ là việc cung cấp các dịch vụ vận tải quá cảnh, lưu kho bãi, bảo quản hàng hóa. Thứ năm, xuất khẩu tại chỗ. Đây là việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các ngoại giao đoàn, khách du lịch quốc tế.
Trong TMQT, thương mại được chia thành các lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó, thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ được xem là hai lĩnh vực quan trọng nhất. Theo Hà Văn Sự (2015, tr.56), “Thương mại hàng hóa là lĩnh vực cụ thể của thương mại, là lĩnh vực trao đổi sản phẩm tồn tại ở dạng vật thể” và là lĩnh vực sôi động nhất trong TMQT. Thương mại trong lĩnh vực này thường diễn ra dưới dạng các quan hệ trao đổi, XNK.
Thương mại dịch vụ quốc tế là việc cung cấp dịch vụ giữa các pháp nhân, thể nhân trong và ngoài nước theo các phương thức khác nhau vì mục đích thương mại. Thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ngày càng thể hiện tầm quan trọng với các quốc gia bởi những lợi ích đem lại cho nền kinh tế và bản thân các chủ thể. Mỗi lĩnh vực thương mại nêu trên có đặc điểm riêng vì vậy đòi hỏi khung khổ pháp lý và nguyên tắc điều chỉnh riêng. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) điều chỉnh 4 nội dung này trong các hiệp định: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs).
b) Quan hệ thương mại quốc tế Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ (2003, tr.799), quan hệ là “sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khi sự vật 16 này có biến đổi thì có thể tác động đến sự vật kia”. Trong môi trường toàn cầu với nhiều chủ thể tham gia hiện nay, sự tác động hay tương tác giữa các chủ thể tất yếu hình thành nên các quan hệ khác nhau. Các mối quan hệ giữa những chủ thể này có thể diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Theo EEA&Norway Grants (2016, tr.6), “Quan hệ song phương là quan hệ giữa hai quốc gia, thường đề cập đến các khía cạnh chính trị, kinh tế, lịch sử và văn hóa.
Những yếu tố khác của quan hệ song phương bao gồm thương mại và đầu tư, trao đổi văn hóa cũng như tri thức chung, nhận thức chung và sự hiểu biết về hai quốc gia và các mối quan hệ đang tồn tại giữa hai quốc gia. Quan hệ đa phương là quan hệ có sự tham gia của nhiều hơn hai quốc gia, nhằm giải quyết các vấn đề chung như hòa bình, hợp tác, đấu tranh để tồn tại và phát triển”. Các quốc gia có thể thiết lập mối quan hệ đa phương qua ký kết, thừa nhận các điều ước, công ước, hiệp định, diễn đàn. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2008, tr.33) cho rằng, trong tổng thể các mối quan hệ kinh tế quốc tế, QHTM quốc tế được xem là bộ phận quan trọng.
QHTM được nhìn nhận đơn giản là trạng thái trao cho một đối tác thương mại đủ điều kiện để nhận mức thuế thấp và các ưu đãi khác để đổi lấy các lợi ích tương tự. Trịnh Thị Thanh Thủy (2007, tr.20) cho rằng “QHTM là toàn bộ các hoạt động trao đổi, hợp tác giữa các quốc gia, giữa các khối trong lĩnh vực thương mại dựa trên cơ sở các hiệp định thương mại, các cam kết, thỏa thuận song phương và đa phương”. Theo cách hiểu này, các hiệp định và các thỏa thuận là cơ sở hình thành các quan hệ trao đổi giữa các quốc gia. Tuy nhiên, bản thân QHTM trong TMQT là một khái niệm rộng, liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau, với nhiều hình thức và các lĩnh vực khác nhau.
Nhóm tác giả cho rằng QHTM quốc tế là tổng thể quan hệ giữa các chủ thể kinh tế diễn ra trong lĩnh vực TMQT, được tạo dựng trên các cấp độ khác nhau, với các hình thức liên kết, hợp tác khác nhau, đem lại lợi ích cho các chủ thể. Từ cách hiểu này, có thể thấy: Thứ nhất, về chủ thể của các QHTM quốc tế. Chủ thể của các quan hệ này là các quốc gia hoặc các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân trong các quốc gia đó và các tổ chức kinh tế quốc tế. - Với chủ thể là các quốc gia và các vùng lãnh thổ kinh tế độc lập, QHTM quốc tế giữa các chủ thể này phát sinh và được thực hiện qua các hiệp định và các thỏa thuận thương mại được ký kết.
- Với các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân trong các quốc gia. Đây có thể là các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế trong nước. Các chủ thể này tham gia vào QHTM quốc tế dựa trên các hiệp định, thỏa thuận của quốc gia đã thiết lập. Quan hệ của các chủ thể này thể hiện qua các hoạt động thương mại cụ thể như hoạt động xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu.
17 - Các tổ chức quốc tế hoặc các thiết chế quốc tế như WTO, Hiệp hội ngành hàng quốc tế. cũng là các chủ thể của QHTM quốc tế song có địa vị pháp lý rộng hơn địa vị pháp lý của chủ thể quốc gia. Trong điều kiện hiện nay, các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia cũng được xem là các chủ thể có vai trò quan trọng trong việc định hình các QHTM quốc tế. Thứ hai, về hình thức.
Thông thường, từ chủ thể là các quốc gia, có 2 hình thức QHTM phổ biến, đó là: QHTM song phương và QHTM đa phương. Trong đó: QHTM song phương là QHTM giữa hai quốc gia. QHTM đa phương là QHTM với sự tham gia của nhiều hơn hai quốc gia. Các quan hệ này có thể là giữa một quốc gia với một nhóm nước hay khối liên kết.
Trường hợp quốc gia là thành viên của một tổ chức hay một khối liên kết, QHTM có thể được nhìn nhận ở 3 khía cạnh: QHTM của quốc gia đó với từng thành viên của khối liên kết, QHTM của quốc gia đó với cả khối liên kết, QHTM của quốc gia với tư cách thành viên của khối với các quốc gia khác ngoài khối hoặc với các liên kết khác. Thứ ba, về lợi ích của các quan hệ. Trong QHTM quốc tế, lợi ích thu được từ các quan hệ này có thể là lợi ích trực tiếp về kinh tế, thương mại như thu nhập, việc làm, tăng trưởng kinh tế. nhưng cũng có thể là các lợi ích gián tiếp về chính trị, quốc phòng.
Những lợi ích an ninh, chính trị, kinh tế sẽ là cơ sở cho các quan hệ lâu dài, bền vững. Đây vừa là mục tiêu nhưng đồng thời là động lực thúc đẩy giao lưu TMQT giữa các chủ thể. c) Phát triển quan hệ thương mại giữa các quốc gia Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ (2003, tr.769), phát triển là “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”. Trịnh Thị Thanh Thủy (2007, tr.