CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Giới thiệu về quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế 1. Khái niệm thương mại hàng hóa quốc tế Thương mại hàng hóa quốc tế là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế trong đó diễn ra việc mua bán, trao đổi các sản phẩm, hàng hóa thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình giữa các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế (Bùi Thị Lý, 2010). Trong đó, chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế được phân chia thành ba loại: - Loại chủ thể thứ nhất: Các quốc gia, các vùng lãnh thổ và các nền kinh tế.
- Loại chủ thể thứ hai: Các tổ chức quốc tế, các liên kết kinh tế quốc tế. - Loại chủ thể thứ ba: Các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia, các hãng, các doanh nghiệp, … tham gia hoạt dộng ngoại thương. Ví dụ: trao đổi, mua bán, xuất nhập khẩu hàng hóa nông sản, khoáng sản, thiết bị công nghiệp, thiết bị điện tử, thiết bị viễn thông,… giữa Việt Nam và Trung Quốc. Vai trò của thương mại hàng hóa quốc tế Thương mại hàng hóa quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển cũng như tạo điều kiện cho các mối quan hệ kinh tế quốc tế khác phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa toàn diện như hiện nay.
Hoạt động xuất khẩu giúp một quốc gia có thêm nguồn thu ngoại tệ và góp phần tận dụng ưu thế của quốc gia. Trong khi đó hoạt động nhập khẩu lại giúp bổ sung những tài nguyên thiếu sót và đa dạng hóa nguồn hàng hóa trong nước góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đồng thời tạo nên áp lực cạnh tranh giữa hàng hóa nội địa và hàng hóa nhập khẩu, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển góp phần vào thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngoài ra, quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế giữa các quốc gia còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội ở các mặt khác nhau như: chuyển giao công nghệ, thay đổi cơ cấu nền kinh tế, tăng cường sự hợp tác quốc tế về mọi mặt, nâng cao chất lượng cuộc sống của quốc gia. Hơn nữa, hoạt động thương mại quốc tế còn giúp cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
Đặc điểm của thương mại hàng hóa quốc tế 1. Thương mại hàng hóa quốc tế có quy mô và tốc độ tăng trưởng nhanh Thương mại hàng hóa quốc tế liên tục tăng trưởng trong nhiều năm qua, giá trị xuất khẩu hàng hóa của cả thế giới năm 2017 (17.000 triệu đô la Mỹ) cao gấp 291,5 lần giá trị xuất khẩu hàng hóa của cả thế giới năm 1948 (59.000 triệu đô la Mỹ). Như vậy, giả sử tốc độ tăng trưởng là đều đặn hàng năm, thì từ năm 1948 đến năm 2017, giá trị xuất khẩu hàng hóa của cả thế giới tăng trưởng đều đặn với tốc độ xấp xỉ 8,572% / năm (WTO, 2018). Ước tính, từ năm 1963 cho đến năm 2017, trong khi GDP của cả thế giới tăng từ 1.000 triệu đô la Mỹ năm 1963 lên đến 80.000 triệu đô la Mỹ năm 2017, tức tăng 49,1 lần, thì tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa quốc tế tăng từ 157.000 triệu đô la Mỹ năm 1963 lên đến 17.000 triệu đô la Mỹ năm 2017, tức tăng 109,5 lần (World Bank, 2018), do vậy có thể nói tốc độ tăng trưởng của thương mại hàng hóa quốc tế nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất thế giới xấp xỉ 2 lần.
Nguyên nhân của sự tăng trưởng này là do các yếu tố sau: - Sự thuận lợi trong việc giao thương giữa các quốc gia trên cơ sở các phương tiện vận tải ngày càng phát triển hiện đại. - Sản lượng sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa. - Phân công lao động quốc tế sâu sắc hơn nên chuyên môn hóa sản xuất được duy trì ở mức cao. - Xu thế tự do hóa thương mại và trao đổi hàng hóa tự do giữa các quốc gia ngày càng rõ nét.
Việc các rào cản thương mại dần được dỡ bỏ đã tạo điều kiệu thuận lợi hơn cho thương mại quốc tế phát triển. Thương mại hàng hóa quốc tế tập trung chủ yếu ở các nước phát triển Theo báo cáo tổng hợp số liệu của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2018, thì trong năm 2017, mười nước đứng đầu về xuất khẩu theo thứ tự bao gồm: Trung Quốc, Mỹ, Đức, Nhật, Netherlands, Hàn Quốc, Hong Kong, Pháp, Ý, Anh đã chiếm 52% tổng giá trị xuất khẩu của cả thế giới. Hơn thế nữa, mười nước đứng đầu về nhập khẩu theo thứ tự bao gồm: Mỹ, Trung Quốc, Đức, Nhật, Anh, Pháp, Hong 15 Kong, Netherlands, Hàn, Ý đã chiếm 52,6% tổng giá trị nhập khẩu của cả thế giới năm 2017 (WTO, 2018). Như vậy, có thể thấy rằng, hầu hết thương mại hàng hóa quốc tế được tập trung ở các nước phát triển (WTO, 2018).1: Tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu của 10 mước có tý trọng xuất khẩu và nhập khẩu lớn nhất thế giới năm 2017 Nước xuất Giá trị xuất Tỷ trọng Nước nhập Giá trị nhập Tỷ trọng khẩu khẩu so với thế khẩu khẩu so với thế (tỷ đô la mỹ) giới (%) (tỷ đô la mỹ) giới (%) Trung quốc 2263 12,8 Mỹ 2410 13,4 Mỹ 1547 8,7 Trung Quốc 1842 10,2 Đức 1448 8,2 Đức 1167 6,5 Nhật 698 3,9 Nhật 672 3,7 Netherlands 652 3,7 Anh 644 3,6 Hàn Quốc 574 3,2 Pháp 625 3,5 Hong Kong 550 3,1 Hong Kong 590 3,3 Pháp 535 3,0 Netherlands 574 3,2 Ý 506 2,9 Hàn 478 2,7 Anh 445 2,5 Ý 453 2,5 Nguồn: World Trade Statistical Review 2018 (WTO, 2018) 1.
Xu hướng toàn cầu hóa và tự do hóa trong hoạt động thương mại quốc tế Tự do hóa thương mại là quá trình các quốc gia cắt giảm và tiến tới xóa bỏ các rào cản thương mại, bao gồm quá trình cắt giảm thuế quan và hàng rào thuế quan, xóa bỏ sự phân biệt đối xử, tạo lập sự cạnh tranh bình đẳng nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho thương mại phát triển. Trong khi đó, toàn cầu hóa là trình/hiện tượng liên kết kinh tế quốc tể trên phạm vị toàn cầu (Bùi Thị Lý, 2010). Đặc điểm này được biểu hiện ở các yếu tố như: - Sự gia tăng mạnh mẽ các hiệp định/thỏa thuận thương mại từ những năm giữa thế kỷ XX: Tính tới hết năm 2017, đã có 459 thỏa thuận thương mại (RTAs) được thông báo cho GATT/WTO, trong đó có 287 RTAs đang có hiệu lực (WTO, 2018). Hơn nữa, theo số liệu của WTO, nếu tính cả số các RTAs đã ký nhưng chưa đi vào 16 giai đoạn có hiệu lực, hoặc đang đàm phán, thì đến hết năm 2017, số RTAs là 673 (WTO, 2018).
- Sự gia tăng trong số lượng và vai trò của các liên kết kinh tế khu vực, liên khu vực và các tổ chức kinh tế quốc tế như: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC), Ủy ban liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), Tổ chức thương mại Thế Giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Hội nghị các nguyên thủ quốc gia về Hợp tác Á- Âu (ASEM), Hiệp hội các nước Ðông Nam Á (ASEAN), Tổ chức OPEC, … - Sự ra đời của nhiều công ty đa quốc gia, các công ty xuyên quốc gia và công ty đa quốc gia ngày càng nhiều. Tính đến hết năm 2017, trên thế giới có 100.000 công ty đa quốc gia và công ty xuyên quốc gia đang hoạt động (UNCTAD, 2018, trang 26). Vai trò của các nước đang phát triển trong thương mại quốc tế ngày càng tăng. Từ năm 1984 đến năm 2017, tỷ trọng giá trị thương mại của nhóm nước kinh tế đang phát triển liên tục tăng từ 26,9% năm 1984 đến 44,34% năm 2017, đã cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ của nhóm nước này trong hoạt động thương mại quốc tế.1: Biểu đồ tỷ trọng giá trị thương mại của các nhóm nước từ năm 1984 – 2017 Đơn vị tính: % 80.00 - 1996 1984 1985 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 Developing economies Transition economies Developed economies Nguồn: World Bank, 2018 17 Không chỉ gia tăng về tỷ trọng so với thế giới, giá trị thương mại của nhóm các nước đang phát triển cũng tăng lên về quy mô, khi tổng giá trị thương mại của nhóm các nước này đạt 7,851,122 triệu đô la Mỹ năm 2017 tức tăng lên gấp 14,83 lần so với năm 1984.
Đặc biệt là sự tăng trưởng mạnh mẽ của nước Trung Quốc trong hoạt động thương mại quốc tế trong những năm gần đây. Cơ cấu hàng hóa trao đổi trong thương mại quốc tế tập trung phần lớn vào nhóm hàng hóa là sản phẩm sản xuất, chế tạo và bán thành phẩm. Theo biểu đổ, nhóm hàng hóa chính được trao đổi trong thương mại quốc tế từ năm 2006 đến 2017 chủ yếu tập trung vào nhóm hàng hóa là sản phẩm sản xuất, chế tạo và bán thành phẩm.2: Cơ cấu hàng hóa trong thương mại quốc tế giai đoạn 2006 – 2016 100% 90% 80% 70% 60% 50% 40% 30% 20% 10% 0% 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Nguyên liệu, khoáng sản và nhiên liệu Hàng hóa nông sản Sản phẩm sản xuất, chế tạo và bán thành phẩm Nguồn: WTO, 2017 Tỷ trọng của nhóm hàng hóa này luôn được duy trình ở mức cao, nhỏ nhất là 66,75% năm 2012, và cao nhất là 75,62% năm 2016, và đạt mức trung bình năm là 70,12%. Nhóm hàng hóa chiếm tỷ trọng thứ hai là nguyên liệu, khoáng sản và nhiên liệu (chi tiết xem ở phụ lục 3).
Các tiêu chí đánh giá quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế 1. Chỉ số “Lợi thế so sánh biểu hiện” RCA (The Coefficient Of Revealed Comparative Advantage - RCA) Hệ số RCA chỉ ra khả năng cạnh tranh xuất khẩu của một quốc gia về một sản phẩm xác định trong mối tương quan với xuất khẩu thế giới của sản phẩm đó, được Bela Balassa giới thiệu vào năm 1965, nhằm so sánh mức độ lợi thế so sánh của sản phẩm này với sản phẩm khác trong cùng một nước, và của nước này với nước khác với cùng một sản phẩm.