Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Đầu tư - Kinh doanh với đề tài "Pháp luật Việt Nam về hoạt động xúc tiến thương mại" được thực hiện bởi sinh viên Nông Thị Phượng (Lớp LUKT10, Khoa Luật Kinh tế, Học viện Chính sách và Phát triển) dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Hương Giang vào năm 2023.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, xúc tiến thương mại (XTTM) được xác định là công cụ quan trọng nhằm thúc đẩy lưu thông hàng hóa, phát triển thị trường nội địa, gia tăng kim ngạch xuất khẩu và hạn chế tình trạng nhập siêu. XTTM đóng vai trò là cầu nối thương mại giữa các doanh nghiệp Việt Nam với thị trường quốc tế, hỗ trợ tìm kiếm đối tác đầu tư và quảng bá thương hiệu.

Sự ra đời của Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 81/2018/NĐ-CP ngày 22/05/2018 đã thiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh các hành vi XTTM. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay đang bộc lộ một số điểm bất cập, mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật và chưa theo kịp sự chuyển dịch của các mô hình kinh doanh hiện đại khi thương nhân mở rộng quy mô sang các thị trường quốc tế lớn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận xác định mục tiêu tổng quát và 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về XTTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động XTTM.
  2. Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về XTTM (bao gồm 4 hình thức cơ bản và chế tài xử lý vi phạm), đồng thời phân tích thực tiễn hoạt động XTTM của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường trọng điểm là Trung Quốc.
  3. Đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật XTTM tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về XTTM và thực tiễn triển khai các phương thức XTTM của thương nhân Việt Nam, đặc biệt là hoạt động xúc tiến xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
  • Phạm vi không gian: Hoạt động XTTM và khung khổ pháp lý tại Việt Nam, kết hợp khảo sát hoạt động xúc tiến thương mại tại thị trường đối tác Trung Quốc.
  • Phạm vi thời gian: Khóa luận được triển khai nghiên cứu từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 7 năm 2023; số liệu thương mại xuất nhập khẩu khảo sát trong giai đoạn 2020 - 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Khóa luận tiếp cận khái niệm XTTM dưới các góc độ: ngôn ngữ học, kinh tế học và pháp lý:

  • Dưới góc độ pháp lý (khoản 10 Điều 3 LTM 2005): XTTM là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ của thương nhân, bao gồm 4 hình thức: khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại.
  • Pháp luật về XTTM được luận giải theo nghĩa rộng (tổng thể các quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, giữa nhà nước với thương nhân/tổ chức XTTM, và giữa thương nhân với nhau/người tiêu dùng) và nghĩa hẹp (bộ phận của LTM 2005 điều chỉnh các hành vi thương mại phát sinh từ 4 hình thức xúc tiến).

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm cơ sở đối chiếu gồm:

  • Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005);
  • Luật Quảng cáo năm 2012 (LQC 2012);
  • Luật Cạnh tranh năm 2018 (LCT 2018);
  • Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Các Nghị định quy định chi tiết và xử phạt vi phạm hành chính: Nghị định 81/2018/NĐ-CP, Nghị định 98/2020/NĐ-CP, Nghị định 38/2021/NĐ-CP, Nghị định 185/2018/NĐ-CP, Nghị định 17/2022/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về quản lý thương mại. Các phương pháp nghiên cứu chuyên biệt gồm:

  • Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật;
  • Phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa lý luận;
  • Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định giữa LTM 2005, LQC 2012 và LCT 2018);
  • Phương pháp thống kê, xử lý số liệu kinh tế - thương mại.

Nguồn dữ liệu

  • Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2021, 2022 của Bộ Công Thương;
  • Niên giám và thông cáo thống kê của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2020 - 2022;
  • Các tài liệu nghiên cứu chuyên ngành, công trình đã công bố trên Tạp chí Cộng sản và các ấn phẩm khoa học pháp lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I. Lý luận chung về xúc tiến thương mại và pháp luật về xúc tiến thương mại

Chương I tập trung làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý và vai trò của XTTM cùng khung lý luận về pháp luật XTTM:

  • Đặc điểm pháp lý của XTTM: Là hoạt động thương mại mang tính chất sinh lợi; chủ thể thực hiện chủ yếu là thương nhân có tư cách pháp nhân độc lập (chi nhánh được phép thực hiện theo giấy phép, văn phòng đại diện không được trực tiếp thực hiện khuyến mại, quảng cáo hay tự tổ chức hội chợ); mục đích trực tiếp là tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng và nâng cao lợi nhuận; phương thức thực hiện đa dạng (tự thực hiện hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ).
  • Vai trò của XTTM: Khảo sát toàn diện ở 3 cấp độ:
    1. Đối với quốc gia: Điều tiết cung cầu, kết nối thị trường trong nước với quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hỗ trợ chính phủ điều hành kinh tế vĩ mô.
    2. Đối với doanh nghiệp: Cung cấp thông tin thị trường, đóng vai trò cầu nối khách hàng, thúc đẩy chuyển đổi số/thương mại điện tử và xây dựng tài sản vô hình (thương hiệu).
    3. Đối với người tiêu dùng: Đem lại lợi ích vật chất trực tiếp từ khuyến mại, định hướng thông tin qua quảng cáo, tạo điều kiện trải nghiệm trực tiếp hàng hóa và so sánh lựa chọn sản phẩm qua hội chợ, triển lãm.
  • Bản chất 4 hình thức XTTM: Phân tích định nghĩa và đặc trưng của Khuyến mại (Điều 88 LTM 2005), Quảng cáo thương mại (Điều 102 LTM 2005), Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ (Điều 117 LTM 2005) và Hội chợ, triển lãm thương mại (Điều 131-133 LTM 2005).

Chương II. Thực trạng pháp luật Việt Nam về xúc tiến thương mại

Chương II đi sâu vào đánh giá các quy phạm thực định, chỉ ra bất cập lập pháp và phân tích số liệu thực tiễn.

1. Thực trạng quy định pháp luật và các bất cập phát hiện

  • Khuyến mại: Khóa luận phân tích chi tiết 08 hình thức khuyến mại quy định tại Điều 92 LTM 2005 và Nghị định 81/2018/NĐ-CP. Qua đó chỉ ra 4 bất cập lớn:
    • Khó phân biệt ranh giới pháp lý giữa hình thức cung ứng hàng mẫu dùng thử không phải trả tiền và hình thức tặng hàng hóa miễn phí.
    • Luật hiện hành chỉ tập trung quy định các biện pháp xúc tiến việc bán hàng, chưa bao quát đầy đủ việc xúc tiến hoạt động mua gom hàng hóa.
    • Vướng mắc khi xác định hạn mức giá trị tối đa dùng để khuyến mại đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ hoặc các chương trình tích hợp đa hình thức.
    • Thiếu quy định bảo vệ người tiêu dùng khi phát sinh lỗi kỹ thuật in ấn thẻ cào trúng thưởng (dẫn chứng vụ việc thực tế: khách hàng trúng thưởng 30 triệu đồng sữa Izzi của Hanoimilk nhưng bị từ chối trả thưởng do lỗi in ấn của Công ty TNHH Sáng tạo).
  • Quảng cáo thương mại (QCTM):
    • Tồn tại sự chồng chéo, mâu thuẫn thẩm quyền quản lý nhà nước giữa Bộ Công Thương (quản lý theo LTM 2005) và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (quản lý theo LQC 2012).
    • Thiếu định nghĩa pháp lý hoàn chỉnh về quảng cáo không lành mạnh.
    • Pháp luật hiện hành (LTM 2005, LQC 2012, LCT 2018) chỉ cấm quảng cáo so sánh trực tiếp nhưng để trống khoảng trống pháp lý đối với hành vi quảng cáo so sánh gián tiếp.
  • Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ: Chưa có sự phân định rõ ràng giữa việc trưng bày hình ảnh sản phẩm trên Internet (về bản chất là quảng cáo trực tuyến chịu sự điều chỉnh của LQC 2012) với trưng bày hàng hóa thực thể.
  • Hội chợ, triển lãm thương mại:
    • Quy định thời hạn đăng ký trước 30-365 ngày (trong nước) và 45-365 ngày (nước ngoài).
    • Tồn tại các hiện tượng tiêu cực: gian hàng bày bán hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ; tình trạng giảm giá vượt trần 50% (thực tế giảm 50-70%); địa điểm tổ chức thiếu tính chuyên nghiệp (sân bóng, công viên gây cản trở giao thông); thiếu cơ chế kiểm soát tần suất tổ chức các hội chợ cùng ngành dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh; chưa tách bạch cơ chế pháp lý giữa hội chợ (bán hàng tại chỗ) và triển lãm (chỉ trưng bày, quảng bá).

2. Chế tài xử lý vi phạm pháp luật XTTM

Khóa luận hệ thống hóa 10 nhóm hành vi bị cấm trong khuyến mại (Điều 100 LTM 2005) và các chế tài tương ứng:

  • Hành chính: Phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với hành vi giảm giá vượt mức tối đa (Nghị định 98/2020/NĐ-CP; tổ chức vi phạm bị phạt gấp đôi theo Nghị định 17/2022/NĐ-CP); phạt từ 50 - 70 triệu đồng đối với quảng cáo hàng hóa cấm kinh doanh, thuốc lá, rượu trên 15 độ (Nghị định 38/2021/NĐ-CP); phạt tiền từ 1 - 40 triệu đồng đối với vi phạm trong hội chợ triển lãm (Nghị định 185/2018/NĐ-CP).
  • Dân sự & Hình sự: Khởi kiện bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015 đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh; truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội lừa dối khách hàng" theo Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017).

3. Thực tiễn hoạt động XTTM của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Trung Quốc

  • Tầm quan trọng: Trung Quốc có đường biên giới đất liền dài với 28 cửa khẩu (riêng Lạng Sơn có 9 cửa khẩu), tăng trưởng GDP dự kiến đạt khoảng 5% vào năm 2023.
  • Số liệu thương mại giai đoạn 2020 - 2022:
Năm Xuất khẩu (Tỷ USD) Nhập khẩu (Tỷ USD) Tổng kim ngạch hai chiều (Tỷ USD) Thâm hụt thương mại (Nhập siêu - Tỷ USD)
2020 48,91 84,19 133,10 35,28
2021 56,01 109,87 165,88 53,86
2022 57,70 117,95 175,65 60,25
  • Cơ cấu mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang Trung Quốc năm 2022:
STT Nhóm mặt hàng chủ lực Trị giá (Tỷ USD)
1 Nhóm hàng công nghiệp (Điện thoại các loại và linh kiện...) 16,1
2 Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện 11,2
3 Nhóm hàng nông sản, thủy hải sản 7,3
4 Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác 3,3
5 Gỗ và sản phẩm gỗ 2,8
6 Giày dép các loại 1,3
  • Phương thức XTTM thực tế: Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu sử dụng phương thức quảng cáo và kết nối giao thương thông qua các hội nghị XTTM song phương tiêu biểu như:
    • Hội nghị giao thương và Lễ ký kết hợp đồng giữa doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc (08/11/2017) do Cục XTTM và Vụ Thương mại Đối ngoại Trung Quốc đồng tổ chức với sự tham gia của hơn 100 doanh nghiệp xuất nhập khẩu (các mặt hàng: thanh long, chuối, nhãn, điều, tinh bột sắn, gạo, cà phê hạt, tiêu, cá tra, cao su, nhựa, gỗ sồi nghiền, bột giấy, than đá).
    • Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài (tháng 4/2023).

Chương III. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về XTTM tại Việt Nam

Theo bố cục đề cương của khóa luận, Chương III đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Định hướng hoàn thiện: Xác định các định hướng sửa đổi quy định đối với từng chế định riêng biệt gồm khuyến mại (tiểu mục 3.1.1), quảng cáo thương mại (tiểu mục 3.1.2) và hội chợ, triển lãm thương mại (tiểu mục 3.1.3).
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật thực định về XTTM nhằm xóa bỏ sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa LTM 2005 với LQC 2012 và LCT 2018 (tiểu mục 3.2.1).
    • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật đối với hoạt động XTTM nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường Trung Quốc, thu hẹp khoảng cách nhập siêu (tiểu mục 3.2.2).

Kết quả và đóng góp

  1. Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về XTTM và pháp luật XTTM dưới cả hai góc độ tiếp cận rộng và hẹp; phân định rõ quyền và giới hạn pháp lý của từng nhóm chủ thể (thương nhân trong nước, chi nhánh, văn phòng đại diện, thương nhân nước ngoài).
  2. Về mặt thực tiễn pháp lý: Tác giả chỉ ra các khoảng trống lập pháp và bất cập thực thi điển hình:
    • Thiếu sự thống nhất giữa các đạo luật có cùng hiệu lực pháp lý (Luật Thương mại và Luật Quảng cáo).
    • Chưa kiểm soát được các hành vi quảng cáo so sánh gián tiếp và gian lận kỹ thuật trong các chương trình khuyến mại may rủi gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
    • Bất cập trong kiểm soát mức giảm giá thực tế và quản lý tiêu chuẩn địa điểm tổ chức hội chợ, triển lãm.
  3. Về mặt thực tiễn kinh tế: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 2020 - 2022 thông qua việc phân tích số liệu xuất nhập khẩu cụ thể, chỉ rõ vai trò của XTTM như một giải pháp pháp lý và kinh tế nhằm tháo gỡ bài toán thâm hụt thương mại (nhập siêu 60,25 tỷ USD năm 2022).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Khóa luận được thực hiện trong khoảng thời gian ngắn (từ tháng 5/2023 đến tháng 7/2023).
    • Về mặt thực tiễn quốc tế, phạm vi nghiên cứu mới chỉ tập trung phân tích hoạt động XTTM tại một thị trường đối tác duy nhất là Trung Quốc, chưa khảo sát so sánh với các thị trường xuất khẩu trọng điểm khác (như Hoa Kỳ hay EU).
    • Nguồn dữ liệu chủ yếu dựa trên các báo cáo thống kê thứ cấp và văn bản quy phạm pháp luật, chưa thực hiện các cuộc khảo sát thực địa diện rộng tại các doanh nghiệp.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng:
    • Nghiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức XTTM kỹ thuật số mới phát sinh trong nền kinh tế số (như livestream bán hàng trên nền tảng xuyên biên giới, sàn thương mại điện tử quốc tế).
    • Đánh giá mức độ tương thích giữa pháp luật XTTM Việt Nam với các cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP).

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật Kinh tế, Luật Đầu tư - Kinh doanh, Thương mại quốc tế: Nguồn tài liệu hệ thống hóa khung pháp lý LTM 2005, LQC 2012, các nghị định hướng dẫn và các án lệ/tình huống tranh chấp thực tế (vụ việc giải thưởng phiếu cào Hanoimilk).
  • Cơ quan xây dựng chính sách, lập pháp: Cung cấp luận cứ thực tiễn về những điểm chồng chéo giữa Luật Thương mại và Luật Quảng cáo để phục vụ công tác rà soát, sửa đổi luật.
  • Doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Tham khảo quy trình, thời hạn đăng ký hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, các giới hạn giảm giá và khuyến mại hợp pháp để phòng tránh rủi ro pháp lý khi kinh doanh trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc.

Câu hỏi thường gặp

1. Văn phòng đại diện của thương nhân có được quyền tự tổ chức chương trình khuyến mại hoặc hội chợ triển lãm không?

Theo quy định tại LTM 2005, văn phòng đại diện của thương nhân không có tư cách pháp nhân độc lập và không được phép trực tiếp thực hiện khuyến mại, quảng cáo hoặc trực tiếp tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại. Văn phòng đại diện chỉ được quyền đại diện theo ủy quyền để ký kết hợp đồng dịch vụ với các thương nhân kinh doanh dịch vụ XTTM để thực hiện các hoạt động này cho thương nhân.

2. Mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ khuyến mại và thời gian thực hiện một chương trình khuyến mại được pháp luật quy định như thế nào?

Theo Nghị định 81/2018/NĐ-CP và LTM 2005, mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá bán ngay trước thời gian khuyến mại. Tổng thời gian thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá không được vượt quá 90 ngày trong một năm và một chương trình khuyến mại không được kéo dài quá 45 ngày.

3. Điểm mâu thuẫn chủ yếu giữa Luật Thương mại 2005 và Luật Quảng cáo 2012 được khóa luận chỉ ra là gì?

Cả hai đạo luật đều có giá trị pháp lý tương đương và cùng điều chỉnh hoạt động quảng cáo hàng hóa, dịch vụ thương mại nhưng cơ chế quản lý và cơ quan thực thi lại độc lập với nhau (Bộ Công Thương thực thi theo LTM 2005, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực thi theo LQC 2012). Điều này dẫn đến sự trùng lặp, thiếu liên thông và gây khó khăn cho thương nhân khi phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính song trùng.

4. Thương nhân muốn tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam và ở nước ngoài phải đăng ký với cơ quan nào và trong thời hạn bao lâu?

  • Hội chợ, triển lãm tại Việt Nam: Phải đăng ký và được xác nhận bằng văn bản của Sở Công Thương nơi tổ chức; thời hạn đăng ký tối đa 365 ngày và tối thiểu 30 ngày trước ngày khai mạc.
  • Hội chợ, triển lãm ở nước ngoài: Thương nhân kinh doanh dịch vụ tổ chức cho thương nhân khác tham gia phải đăng ký với Bộ Công Thương; thời hạn đăng ký tối đa 365 ngày và tối thiểu 45 ngày trước ngày khai mạc.

5. Tình hình cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn 2020 - 2022 diễn biến ra sao?

Cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc luôn trong trạng thái thâm hụt (nhập siêu) tăng dần qua các năm: năm 2020 nhập siêu 35,28 tỷ USD; năm 2021 tăng lên 53,86 tỷ USD; và đến năm 2022 mức thâm hụt thương mại đạt 60,25 tỷ USD (với tổng kim ngạch hai chiều đạt 175,65 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 57,70 tỷ USD và nhập khẩu đạt 117,95 tỷ USD).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Thị Phượng đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động xúc tiến thương mại tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ các mâu thuẫn lập pháp giữa các đạo luật chuyên ngành, đồng thời gắn kết việc phân tích quy định thực định với bài toán đẩy mạnh xuất khẩu và kiềm chế nhập siêu sang thị trường Trung Quốc giai đoạn 2020 - 2022. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho sinh viên luật kinh tế, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại.