Chương I - Đặt vấn dé Chương II - Tổng quan tài liệu FF 2.Lược sử nghiên cứu chim ở Việt Nam A- 2. Nghiên cứu chim ở Vườn Quốc Gia Tam Đảo Chương II - Đặc điểm khu vực nghiên cứu yy 3. Điều kiện tự nhiên 3. Đặc điểm dân sinh kinh tế và xã hội 12 Chương IV - Đối tượng - Địa điểm - Thời gian - Nội dung va phương pháp nghiên cứu 14 4.
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 14 4. Nội dung nghiên cứu 14 4. Phương pháp nghiên cứu 15 Chương V — Kết quả và phân tích kết quả 24 5. Đặc điểm cấu trúc sinh cảnh 24 5.
Đặc điểm phân bố của các loài chim 30 5. Phân tích mối quan hệ phân bố các loài chim theo sinh cảnh và đai cao 4I 5. Kết quả tổng hợp quan sát chim theo tầng thứ 4 Chương VI - Ý' kiến dé xuất cho công tác bảo tồn chim tại khu vực nghiên cứu 45 Chương.VTII— Kết ]uận, tồn tại và kiến nghị 47 LỜI NÓI ĐẦU Để đánh giá kết quả sau bốn năm học tập tại trường, được sự đồng “ý của trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Quản lý Tài nguyên rừng.và Môi trường, Bộ môn Động vật rừng, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu quan hệ phân bố của các loài chim với sinh cảnh tại Vườn Quốc Gia Tam Đảo”. Đến nay đề tài đã hoàn thành, nhân dịp này tôï xin chân thành cảm ơn đến các thẩy giáo, cô giáo, Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp, cán bộ Vườn Quốc Gia Tam Đảo, nhân dân xã Đạo Trù đã giúp đỡ tôi hoàn thành để tài này.
Qua đây; tôi xin tỏ lòng biết ơn đặc biệt tới thây giáo Th.S Đỗ Quang Huy, người đã trực tiếp giúp đỡ tôi thực hiện đề tài. Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, những do thời gian và năng lực hạn chế nên bản khóa luận không: tránh khỏi sai sót. Vậy kính mong ý kiến phê bình, góp ý, bổ sung của các thầy, cô giáo và các bạn. Tôi xin chân thành cảm ơn! at Xuân Mai, ngày13 tháng 5 năm 2004 A ee ee Sinh viên thực hiện: Mai Trọng Thịnh TU cag cố go 7ó "cốc CHUONG I DAT VAN DE Rừng là nguồn tài nguyên quí giá đối với loài người, rừng không những che chở mà còn cung cấp thức ăn và làm sạch nguồn nước, không khí đấm bảo sự sống cho muôn loài động vật.
Rừng đã cung cấp thức ăn, nguyên vật liệu cho con người suốt chiều dài lịch sử.Trải qua thời kì nguyên thuỷ; cộng đồng loài người bước vào nền văn minh nông nghiệp, rừng vẫn là.cái nôi cho con người và gần như vô tận. Bước sang nền văn ninh công nghiệp từ thế kỉ 18 với những tiến bộ khoa học vượt bậc và những lợi nhuận Kếch xù từ rừng, con người đã khai thác rừng không một chút thương tiếc. Vì mục đích kinh tế, con người đã tiêu diệt nhiều loài động vật; thực vật trong rừng. Theo Dorst (1968), con người đã làm tuyệt chủng khoảng 120 loài động vật có vú, 150 loài chim, 13 loài bò sát.
Động vật rừng là thành phần dị dưỡng; khâu quan trọng trong quá trình chuyển hoá năng lượng của hệ sinh thái rừng, chúng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khả năng sinh trưởng và phát triển của thảm thực vật rừng (phòng trừ sâu bệnh, phát tán quả hạt:. Chúng là nguồn thực phẩm có giá trị cao, là nguyên liệu để sản xuất các đồ mĩ nghệ: Da, lông, ngà. Một số loài có giọng hót hay, màu sắc đẹp còn được nuôi làm cảnh như Sáo, Yểng, Vẹt, Khướu, Cu gáy, Hoa mi. Ngoài những giá trị kinh tế, chúng còn có giá trị văn hoá, giá trị nghiên cứu khoa học, giá trị dân tộc học.
Nước ta là một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm có ánh nắng chiếu sáng rất thuận lợi cho rừng phát triển. Tuy nhiên, hiện nay rừng hước-ta-dan$,.bị tàn phá một cách ghê gớm.3 triệu ha Từng chiếm 43.8% diện tích, nhưng đến năm 1981 chỉ còn 8.26 triệu ha chiếm 28% diện tích. Diện tích rừng ngày càng giảm, điều đó có nghĩa là nguồn thức ăn và nơi ở của các loài động vật rừng đang bị thu hẹp và ngày càng bị tách biệt, tạo ra các “Vùng địa lí sinh học đảo”. Số loài trong “Vùng _ địa lí sinh học đảo” tỉ lệ thuận với diện tích của đảo và ngược lại , số loài sẽ 3 giảm mạnh khi diện tích của đảo bị thu hẹp, kèm theo là sự tuyệt chủng ngoài tự nhiên.
Ví dụ như: Tê giác một sừng, Heo vòi. Trong hệ sinh thái rừng nói chung, trong giới động vật nói riêng, lớp chim là một lớp lớn có vai trò sinh thái quan trọng. Chúng cớ số lượng loài đông nhất trong các lớp động vật có xương sống ở cạn và phân bố rộng khắp trên hành tinh của chúng ta. Trong lưới thức ăn, chữn là sinh vật tiêu thụ các cấp, có mối quan hệ đa dạng, phức tạp với nhau và với các mắt-xích thức ăn khác.
Do đó, chim có ảnh hưởng lớn đến diễn biến và xu thế phát triển của hệ sinh thái rừng. Việc nghiên cứu quan hệ phân bố của các loài chim Với sinh cảnh để tìm ra những quy luật cơ bản của nó không nằm ngoài mong muốn giúp định hướng cho các giải pháp quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, đặc biệt là lớp chim sao cho có hiệu quả nhất. Dé tai “Nghiên cứu quan hệ phân bố của các loài chim với sinh cảnh tại Vườn quốc gia Tam Đảo” là một đề tài rộng. Nhưng do giới hạn của một khoá luận cũng như thời gian và trình độ của bản thân còn hạn chế nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 2. Lược sử nghiên cứu chim ở Việt Nam "Trước năm 1945, tất cả các tài liệu nghiên cứu về'chim đều là của người nước ngoài, đặc biệt là của các tác giả người pháp:. Từ năm 1945- 1954, mọi nghiên cứu về chim đều bị gián đoạn do đất nước bị chiến tranh. “Sau nam 1954, công việc nghiên cứu.về chim mới chí bắt đầu trở lại từ năm 1957, khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng ít lâu: Đáng chú ý nhất là các công trình nghiên cứu về chim của các tác giả: Võ Quý, Trần Gia Huấn (1960, 1961); Võ Quý (1962, 1966); V6 Quy, Đỗ Ngọc Quang (1965); Võ Quý, Anorova N.
Nhìn chung, các tác giả mới chỉ đi sâu nghiên cứu về mặt khu hệ và phân loại nhưng còn ít chú ý đến mặt sinh học và sinh thái học. Năm 1971, Võ Quý đã cho ra đời công trình “ Sinh học những loài chủm thường gặp ở Việt Nam”, đó là kết quả tổng hợp nghiên cứu của hơn 7 năm trước đó về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Trong sách, tác giả có trình bày:đầy đủ các đặc điểm về nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc mà đa số là các loài có giá trị kinh tế: Rõ ràng, đây là công trình nghiên cứu về chim đây đủ, có hệ thống và sát với thực tế nhất cho đến nay. Do đối tượng nghiên cứu tương đối lớn nên-tác giả không thể di sâu nghiên cứu về nơi ở của các loài chữm:' Đối với mỗi loài, vềể nơi ở, tác giả mới chỉ ra chúng sống ở sinh cảnh nào, đai cao nào mà chưa chỉ ra cụ thể đặc điểm sinh cách sống của chim như tổ thành loài thực vật,,vị trí tầng tán loài ưa thích.
Sau chiến tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, công trình: “ Chim Việt Nam, hình thái và phân loại (Tập I, I)” cia Võ Quý(1975, 1981) là công trình đâu tiên nghiên cứu chim trên toàn lãnh thổ Việt Nam về mặt hình thái và phân loại. Trong những năm tiếp theo, đáp ứng nhu cầu dân số ngày càng tăng, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng nên kinh tế còn lạc hậu của mình, nhân dân Việt Nam vẫn phải khai thác rừng một cách mạnh mẽ. Vì vậy rừng đã bị tàn phá nặng nề cả về diện tích và chất lượng rừng: Cũng chính vì thế mà tài nguyên động vật rừng cũng bị suy giảm, trong đó có tài nguyên chim rừng. Nhận thức được việc mất rừng là một tổn thất nặng nể đang đe doạ các tài nguyên có khả năng tái tạo, năm 1986.chính phủ Nước.
Việt Nam đã thành lập hệ thống gồm 87 khu rừng đặc dụng với diện tích khoảng 1. Nhưng hầu hết các khu rừng này hoạt động kémrhiệu quả do thiếu kinh phí, thiếu cán bộ kỹ thuật và người quản lý không biết cụ thể số lượng, chất lượng tài nguyên rừng trong khu vực mình quản lý: Trong giai đoạn này cuốn “ Danh lục chữn Việt Nam” của-Võ Quý, Nguyễn Cử (1995) ra đời góp phần giải quyết những khó khăn trên. Bảng -danh lục gồm 19 bộ, 81 họ, 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995. Với mỗi loài, các tác giả đã dẫn các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố của chúng.
Cho đến những năm gần đây, nhiêu dự án bảo tồn đa dạng sinh học của các chính phủ nước ngoài như: Hà Lan, Úc, Đức.Các tổ chức phi chính phủ: Tổ chức bảo tồn chim Quốc tế (Birdlife International), tổ chức bảo vệ động thực vật Quốc tế (FFI)., hiệp hội bảo tổn thiên nhiên Quốc tế (UCN), quỹ Quốc tế và-bảo. vệ thiên nhiên (WWE), ngân hành thế giới (WB) đầu tư vào Việt Nam thì việc bảo tồn đa dạng sinh học nước ta được tăng cường và một loạt các công trình nghiên cứu về chim được xuất bản nhằm phục vụ chiến lược đào:tạo nguồn nhân lực. Công trình nghiên cứu đầy đủ về chim là cuốn “ Phillipps. Cuốn sách được biên soạn dựa trên cơ sở cuốn “Chữm Hồng Kông 5 và Nam Trung Quốc” (1994) của các tác giả Clive viney, Lam chin ying va Karen phillipps.
Trong sách tác giả đã giới thiệu khoảng 500'loài chim trong tổng số gần 850 loài chỉm ở Việt Nam. Mỗi loài chim, tác ðiả trình bày các mục mô tả, phân bố, tình trạng, nơi ở và có hình vẽ kèm theo. Cuốn sách được biên soạn với mục đích giúp người đọc nhận dạng được loài chim.“ngoäi thực địa là chủ yếu. Nghiên cứu chỉm ở Vườn quốc gia Tam Đảo Sau năm 1954, miền Bắc Việt Nam được giải phóng, những nghiên cứu về động vật ở Tam Đảo mới được các nhà khoa học Viện Nam thực hiện.
Nghiên cứu đầu tiên vào năm 1962 của Uỷ ban khoa-học và kỹ thuật Nhà nước (nay là Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường).