Khóa luận tốt nghiệp nuôi trồng thủy sản thử nghiệm ương nuôi cá tra pangasianodon hypophthalmus trong hệ thống tuần hoàn khép kín

Khóa luận trình bày quy trình ương nuôi cá tra pangasianodon hypophthalmus trong hệ thống tuần hoàn khép kín, mang lại hiệu quả cao trong nuôi trồng thủy sản.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận

2023

61
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục tiêu đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Sơ lược về cá Tra

2.2. Nguồn gốc và đặc điểm phân bố

2.2.1. Đặc điểm hình thái

2.2.2. Đặc điểm sinh trưởng

2.2.3. Đặc điểm dinh dưỡng

2.2.4. Đặc điểm sinh sản

2.3. Tình hình sản xuất cá Tra giống tại Việt Nam

2.4. Khái quát kỹ thuật ương giống cá Tra từ bột lên giống

2.5. Hệ thống lọc tuần hoàn

2.6. Nguyên lý vận hành

2.7. Ứng dụng tại Việt Nam

3. PHẦN 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và nguồn cá thí nghiệm

3.2. Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm

3.3. Nguồn nước thí nghiệm

3.4. Phương pháp thí nghiệm

3.5. Bố trí thí nghiệm

3.6. Phương pháp thu và phân tích mẫu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Các yếu tố môi trường

4.2. Tỉ lệ sống của cá sau 14 ngày ương

4.3. Tăng trưởng về khối lượng của cá Tra

4.4. Phân hóa sinh trưởng về khối lượng của cá Tra trong thí nghiệm

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN BẾN XUẤT

DANH SÁCH BẢNG

DANH SÁCH HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu phương pháp ương nuôi cá tra trong hệ thống tuần hoàn khép kín

Nghiên cứu phương pháp ương nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) trong hệ thống tuần hoàn khép kín đang trở thành một xu hướng quan trọng trong ngành nuôi trồng thủy sản. Hệ thống này không chỉ giúp tiết kiệm nước mà còn cải thiện chất lượng môi trường sống cho cá. Việc áp dụng công nghệ này có thể giải quyết nhiều vấn đề trong nuôi cá tra, từ việc quản lý nước đến kiểm soát dịch bệnh.

1.1. Đặc điểm sinh học của cá tra và tầm quan trọng trong nuôi trồng thủy sản

Cá tra là loài cá da trơn, có tốc độ tăng trưởng nhanh và khả năng thích nghi tốt với môi trường nuôi. Đặc điểm này giúp cá tra trở thành đối tượng nuôi chủ lực tại Việt Nam, đặc biệt trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

1.2. Hệ thống tuần hoàn khép kín và lợi ích của nó trong nuôi cá

Hệ thống tuần hoàn khép kín (RAS) cho phép tái sử dụng nước, giảm thiểu ô nhiễm và tiết kiệm chi phí. Hệ thống này giúp duy trì các thông số chất lượng nước ổn định, từ đó nâng cao hiệu quả nuôi cá.

II. Vấn đề và thách thức trong ương nuôi cá tra hiện nay

Ngành nuôi cá tra đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm ô nhiễm môi trường, dịch bệnh và chi phí sản xuất cao. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn đến chất lượng sản phẩm. Việc tìm ra giải pháp hiệu quả để khắc phục những thách thức này là rất cần thiết.

2.1. Ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến cá tra

Ô nhiễm nước do chất thải từ cá và thức ăn thừa là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ sống thấp trong quá trình ương nuôi. Việc áp dụng RAS có thể giúp giảm thiểu tình trạng này.

2.2. Dịch bệnh và biện pháp phòng ngừa

Dịch bệnh là một trong những yếu tố gây thiệt hại lớn trong nuôi cá tra. Việc quản lý môi trường và sử dụng thức ăn phù hợp có thể giúp giảm thiểu rủi ro này.

III. Phương pháp ương nuôi cá tra trong hệ thống tuần hoàn khép kín

Nghiên cứu đã thực hiện các thí nghiệm với nhiều phương pháp cho ăn khác nhau nhằm xác định phương pháp tối ưu nhất cho cá tra trong hệ thống tuần hoàn khép kín. Các nghiệm thức được thiết kế để so sánh hiệu quả của từng phương pháp.

3.1. Thiết kế thí nghiệm và các nghiệm thức

Thí nghiệm được bố trí với 4 nghiệm thức khác nhau, mỗi nghiệm thức sử dụng một phương pháp cho ăn khác nhau, từ thức ăn tươi sống đến thức ăn công nghiệp.

3.2. Kết quả và phân tích hiệu quả các phương pháp cho ăn

Kết quả cho thấy nghiệm thức 4 với thời gian chuyển đổi thức ăn dài và lượng thức ăn ít hơn đã đạt được tỷ lệ sống và tăng trưởng cao nhất, cho thấy tính hiệu quả của phương pháp này.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong nuôi cá tra

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng hệ thống tuần hoàn khép kín trong ương nuôi cá tra không chỉ giúp tăng tỷ lệ sống mà còn giảm chi phí sản xuất. Những ứng dụng này có thể được mở rộng ra nhiều mô hình nuôi khác nhau.

4.1. Tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá tra trong thí nghiệm

Cá tra trong thí nghiệm đã cho thấy tỷ lệ sống cao và tốc độ tăng trưởng nhanh, điều này chứng tỏ tính khả thi của phương pháp nuôi này.

4.2. Ứng dụng mô hình RAS trong nuôi trồng thủy sản

Mô hình RAS có thể được áp dụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản, không chỉ cho cá tra mà còn cho nhiều loài thủy sản khác, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu ương nuôi cá tra

Nghiên cứu phương pháp ương nuôi cá tra trong hệ thống tuần hoàn khép kín đã mở ra hướng đi mới cho ngành nuôi trồng thủy sản. Việc áp dụng công nghệ này không chỉ giúp cải thiện năng suất mà còn bảo vệ môi trường.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong phát triển bền vững

Nghiên cứu này đóng góp vào việc phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản, giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

5.2. Hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến các phương pháp nuôi để nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp nuôi trồng thủy sản thử nghiệm ương nuôi cá tra pangasianodon hypophthalmus trong hệ thống tuần hoàn khép kín

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Nghề nuôi cá Tra Pangasianodon hypophthalmus ở Đồng bằng sông Cửu Long đã phát triển nhanh sau khi loài này được sản xuất giống nhân tạo thành công từ năm 1996 và hiện đã trở thành đối tượng chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam (Nguyễn Thanh Phương và ctv. Thành công trong sản xuất giống cá Tra nhân tao là yếu tố rất quan trọng, tạo động lực thúc day sự phát triển của nghề nuôi cá Tra ĐBSCL, do có thể chủ động được số lượng và chất lượng con giống, giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng thịt cá nuôi hơn (Bộ NN&PTNT, 2014b). Theo Tổng cục Thủy sản, năm 2017 tình hình nuôi, chế biến và xuất khẩu cá Tra ở vùng ĐBSCL gặp nhiều khó khăn do tác động của biến đổi khí hậu, rào cản kỹ thuật của nhiều nước trên thế giới, giá cả that thường không ồn định. khiến cho kim ngạch xuất khẩu đạt 1.788 triệu USD, bình quân giảm 0,61 %/năm (VASEP, 2017).

Nguyên nhân của sự sụt giảm này đến từ các yếu tô khách quan từ thị trường, tự nhiên và yếu tố chủ quan là do chúng ta chưa chú trọng đến việc thay thế đàn cá Tra bố mẹ, việc sử dụng cho cá Tra bố mẹ sinh sản quá nhiều lần dẫn đến tình trạng chất lượng đàn cá bó mẹ bị thoái hóa, lai cận huyết đã xuống cấp đến mức đáng báo động ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng con giống: từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng cũng như giá thành và khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Mặt khác, do nhu cầu nuôi cá Tra thương phâm theo hướng công nghiệp và nuôi với mật độ cao, yêu cầu nguồn con giống có chất lượng tốt là rất cần thiết. Dé đáp ứng nhu cầu con giống với số lượng lớn, các trại ương giống thường ương cá với mật độ cao. Khi ương cá với mật độ cao dé gây ô nhiễm môi trường, xuất hiện nhiều dịch bệnh, các cá thể cạnh tranh nhau về thức ăn và không gian sống dẫn đến tỉ lệ sống thấp (Phạm và Tịnh, 2015).

Một trong những trở ngại lớn trong ngành sản xuất cá Tra giống hiện nay là hao hụt giai đoạn cá bột lên hương rất cao, lên đến 90 % (Bui và ctv, 2010). Nguyên nhân chủ yếu gây chết là đo hiện tượng ăn thịt đồng loại trong khoảng thời gian 40 giờ sau khi nở đến 3 ngày tuổi và không có đủ thức ăn phủ hợp (Phạm Thanh Liêm và ctv. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng cho vùng nuôi và ương dưỡng chưa đồng bộ, hệ thống kênh cấp, kênh thoát dùng chung chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất, din đến khó quản lý môi trường va 11 lây lan dịch bệnh. Bên cạnh đó, vẫn chưa hình thành vùng sản xuất giống cá Tra tập trung, mặc du đã có quy hoạch (Tổng cục Thủy sản, 2017a).

Do đó, việc phát triển va áp dụng một mô hình nuôi mới đáp ứng được nhu cầu về chất lượng và số lượng là rất cần thiết. Theo Trần Thị Thanh Nga và Võ Thị Thu Em (2022), Nuôi trồng thủy sản nước tuần hoàn - RAS là một mô hình tiềm năng có thê thay thế mô hình ương nuôi truyền thống. RAS là công nghệ tái sử dụng lại nước trong hệ thống nuôi, đem lại khả năng kiểm soát tốt hơn trong điều kiện hạn chế tài nguyên — lợi ích bền vững môi trường, hiệu quả sản xuất được cải thiện — lợi ích kinh tế. Trong hệ thống tuần hoàn, nước được tuần hoàn nhằm loại bỏ các chất thải do cá bài tiết và bé sung lượng oxy cần thiết dé giữ cho đối tượng nuôi hoạt động ôn định.

Hệ thống này có thé 6n định được các thông số chất lượng nước như pH, nhiệt độ, khí độc,. tùy vào nhu cầu từng đối tượng. RAS còn được áp dụng rộng rãi trong sản xuất giống và sản xuất thương mại một số loài thủy sản như tôm thẻ chân trắng (Suantika và cộng sự, 2018), cá hồi Oncorhynchus mykiss (Pulkkinen va cộng sự, 2018), cá rô phi Oreochromis niloticus (Sri-uam et cộng sự, 2016), cá bớp Rachycentron canadum (Díaz-Muñoz va cộng sự, 2019) và đạt được nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về việc áp dụng hệ thống RAS vào ương nuôi cá Tra bột.

Do đó, dé tài “7n nghiệm ương nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) trong hệ thong tuan hoàn khép kín” được thực hiện nhằm tìm ra và phát T33 triển quy trình nuôi bền vững đáp ứng được nhu cầu về tỉ lệ sống và chất lượng con giống. Mục tiêu đề tài ° Ghi nhận tỉ lệ sống và tốc độ phát triển của cá Tra bột trong 14 ngày ° Thực hành và điều chỉnh phương pháp ương nuôi cá Tra trong hệ thống tuần hoàn RAS 12 Phan 2: TONG QUAN TÀI LIEU 2. Sơ lược về cá Tra 2. Phan loại Theo hệ thống phân loại của Robert và Vidthayanon (1991), thì cá Tra thuộc: Ngành: Chordata Lớp: Actinopteryg Bộ: Siluriformes Họ: Pangasiidae Giống: Pangasius Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) e Tên tiếng Anh: Striped catfish e Tên tiếng Việt: cá Tra 2.

Đặc điểm hình thái KW Hinh 2. Ca Tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) Theo Trương Thủ Khoa và Tran Thi Thu Hương (1993), cá Tra là loài cá da trơn, có thân dài, dẹp ngang, đầu nhỏ vừa phải. Miệng cận dưới, rộng ngang, không co duỗi được. Răng nhỏ, mịn, răng vòm miệng chia thành 4 đám nhỏ, mỏng, nằm trên đường vòm cung, đôi khi bị che lấp bởi lớp da vòm miêng.

Có hai đôi râu dài, râu mép kéo dai chưa chạm đến gốc vi ngực, râu cằm ngắn hơn. Mắt lớn, nằm trên đường thang ngang kẻ từ góc miệng, gần chót mõm hơn gần đến điểm cuối nắp mang. Vi lưng và vi ngực 13 có gai cứng, mang răng cưa ở mặt sau. Ở cá nhỏ, phần lưng của đầu và thân có màu xanh lục, ngoài ra còn có sọc xanh chạy dọc bên thân, sọc thứ nhất chạy dọc theo đường bên lỗ mang đến vi đuôi, sọc thứ hai ở bên dưới đường bên và chạy từ lỗ mang đến khởi điểm vi hậu môn.

Các sọc này nhạt dan và biến mắt khi cá lớn. Ở cá lớn, mặt lưng của thân và đầu có màu xanh xám hoặc xám đen và nhạt dần xuống bụng, bụng có màu trắng bạc. Nguồn gốc và đặc điểm phân bố Theo Nguyễn Chung (2008), cá Tra phân bồ rất rộng, xuất hiện ở hầu hết các lưu vực tự nhiên của hệ thống sông Cửu Long ở các nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Cá trưởng thành có kích thước lớn rất hiểm thấy ở ngoài tự nhiên, chủ yếu chi thay trong ao.

Ngày nay, do cá Tra được nuôi ở nhiều nước nên cá Tra cũng được tìm thấy ở nhiều lưu vực các sông lớn của các nước như Indonesia, Malaysia, Trung Quốc,. Ở Việt Nam, cá Tra phân bố ở vùng hạ lưu sông Cửu Long, có khả năng sống trong điều kiện ao tù, nước đọng, nhiều chất hữu cơ, hàm lượng DO thấp và có thé nuôi ở mật độ cao (Nguyễn Văn Kiểm, 2004). Ngoài ra, cá Tra cũng có ở hầu hết các sông rạch của Việt Nam như sông Đồng Nai, Vam Co, sông La Ngà,. các bé đầm ở các tỉnh vùng cao như Đắk Nông, Đắk Lắk, các sông miền Trung Việt Nam (Nguyễn Văn Chung, 2008).

Đặc điểm sinh trưởng Theo Nghiêm Thị Nguyệt Thu (2010), cá bột nở có chiều đải trung bình 3,5 — 4 mm, khối noãn hoàng còn lớn, vây lưng, vây đuôi, vây bụng và vây hậu môn dính liền với nhau. Có hai đôi râu trong đó đôi râu mép dài hơn chiều dài thân, mắt đen và lớn, trên thân chưa có sắc tố do đó cá có màu trắng trong. Miệng cá chưa cử động được, cá hoạt động liên tục và bơi theo chiều thắng đứng. Ca nở 2 — 3 ngày có chiều dải trung bình 5,5 — 6,5 mm.

Các vây vẫn dính liền thành một dai. Răng đã xuất hiện. Hàm đã cử động được và bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài. Trên thân xuất hiện nhiều sắc tố đen nhạt.

Cá hoạt động liên tục và thường bơi lội ở tầng ngang. Dai vây lưng và dai vây bụng đã xuất hiện vét lõm đề hình thành vây lưng, vây bụng. 14 Cá Tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, sau 1 năm nuôi cá đạt khối lượng 1 - 1,5 kg/con. Trong những năm sau cá lớn nhanh hơn, cá 10 năm tuổi có thé đạt đến 25 kg khi được nuôi trong ao (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).

Giai đoạn nhỏ cá tăng trưởng nhanh về chiều đài, cá sẽ bước vào thời kỳ tích lũy mỡ khi đạt 2,5 kg. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng của cá phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường, mật độ thả nuôi, đặc biệt là chất lượng của thức ăn sử dung (Dương Nhựt Long, 2003). Cá Tra trong tự nhiên 1 năm tuổi có thé đạt 0,7 kg/con, 2 năm tuổi có thé lớn 1,5 — 2 kg/con và 3 năm tuổi có thé lớn 3 —4 kg (Nguyễn Chung, 2008). Sau 10 — 12 năm tuổi cá có thé đạt đến 20 — 25 kg/con.

Trong ao nuôi thâm canh cá đạt khối lượng 0,9 — 1,2 kg/con trong thời gian nuôi 5 — 6 tháng tùy theo kích cỡ thả giống (Nguyễn Thanh Phương và crv, 2010). Đặc điểm dinh dưỡng Cá Tra bột mới nở không có khả năng sử dụng thức ăn bên ngoài, chúng dinh dưỡng chủ yêu bằng noãn hoàng đến 2 — 3 ngày sau khi nở. Khi noãn hoàng gần hết, cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài (Nguyễn Văn Kiểm, 2009). Thức ăn của cá lúc nay là môi tươi sống và ăn liên tục các loại như luân trùng và các động vật nhỏ sống trôi nồi trong nước (Dương Nhựt Long, 2004).

Kết quả khảo sát cỡ miệng cá Tra thì miệng cá sau khi nở 30 giờ là 190 — 250 um (Trương Ngọc Trinh và ctv. 2015), ngày thứ 3 là 240 — 458 um (Phạm Thị Hồng, 2012); và cá bột chi bắt được thức ăn có kích thước tương đương phân nửa cỡ miệng (Shirota, 1970). Theo Dương Nhựt Long (2003), cá Tra là loài ăn tạp, trong tự nhiên cá ăn được mùn bã hữu cơ, ré cây thủy sinh, rau quả, tôm tép, cua, côn trùng, dc và cá. Cá hoạt động liên tục và rất hung dữ.

Một tập tinh của cá Tra bột mới nở là sự đớp mở miệng liên tục vi vậy khi cá bơi lội trong bể ương có mật độ dày rất dé đụng nhau gây hao hụt và gây nhằm lẫn với tập tinh ăn lẫn nhau. Đặc tính nay thé hiện cao nhất lúc cá được 5 đến 7 ngày tuổi, lúc này tỉ lệ hao hụt của cá cao nhất nếu giữ cá ở mật độ cao. Khi cá được 10 ngày tuôi thì hoạt động ăn lẫn nhau giảm dần đến 15 ngày tuổi thì không còn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu phương pháp ương nuôi cá tra trong hệ thống tuần hoàn khép kín" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp nuôi cá tra hiệu quả trong môi trường tuần hoàn, giúp tối ưu hóa chất lượng nước và thức ăn cho cá. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ các kỹ thuật ương nuôi mà còn phân tích lợi ích của hệ thống tuần hoàn, như giảm thiểu ô nhiễm và tiết kiệm chi phí. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích để áp dụng vào thực tiễn nuôi trồng thủy sản, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cá tra, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ effect of phyllanthus amarus schum et thonn and euphorbia hirta l extracts on the quality of striped catfish pangasianodon hypophthalmus fillets during iced storage, nơi nghiên cứu tác động của các chiết xuất thực vật đến chất lượng cá tra trong quá trình bảo quản. Bên cạnh đó, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp bệnh học thủy sản đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme phytase và acid hữu cơ vào thức ăn lên tăng trưởng hình thái mô học và hệ vi sinh đường ruột của cá tra pangasianodon hypophthalmus sauvage 1878 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của các thành phần dinh dưỡng đến sự phát triển và sức khỏe của cá tra. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn nâng cao kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.