Đặt vấn đề Nghề nuôi cá Tra Pangasianodon hypophthalmus ở Đồng bằng sông Cửu Long đã phát triển nhanh sau khi loài này được sản xuất giống nhân tạo thành công từ năm 1996 và hiện đã trở thành đối tượng chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam (Nguyễn Thanh Phương và ctv. Thành công trong sản xuất giống cá Tra nhân tao là yếu tố rất quan trọng, tạo động lực thúc day sự phát triển của nghề nuôi cá Tra ĐBSCL, do có thể chủ động được số lượng và chất lượng con giống, giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng thịt cá nuôi hơn (Bộ NN&PTNT, 2014b). Theo Tổng cục Thủy sản, năm 2017 tình hình nuôi, chế biến và xuất khẩu cá Tra ở vùng ĐBSCL gặp nhiều khó khăn do tác động của biến đổi khí hậu, rào cản kỹ thuật của nhiều nước trên thế giới, giá cả that thường không ồn định. khiến cho kim ngạch xuất khẩu đạt 1.788 triệu USD, bình quân giảm 0,61 %/năm (VASEP, 2017).
Nguyên nhân của sự sụt giảm này đến từ các yếu tô khách quan từ thị trường, tự nhiên và yếu tố chủ quan là do chúng ta chưa chú trọng đến việc thay thế đàn cá Tra bố mẹ, việc sử dụng cho cá Tra bố mẹ sinh sản quá nhiều lần dẫn đến tình trạng chất lượng đàn cá bó mẹ bị thoái hóa, lai cận huyết đã xuống cấp đến mức đáng báo động ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng con giống: từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng cũng như giá thành và khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Mặt khác, do nhu cầu nuôi cá Tra thương phâm theo hướng công nghiệp và nuôi với mật độ cao, yêu cầu nguồn con giống có chất lượng tốt là rất cần thiết. Dé đáp ứng nhu cầu con giống với số lượng lớn, các trại ương giống thường ương cá với mật độ cao. Khi ương cá với mật độ cao dé gây ô nhiễm môi trường, xuất hiện nhiều dịch bệnh, các cá thể cạnh tranh nhau về thức ăn và không gian sống dẫn đến tỉ lệ sống thấp (Phạm và Tịnh, 2015).
Một trong những trở ngại lớn trong ngành sản xuất cá Tra giống hiện nay là hao hụt giai đoạn cá bột lên hương rất cao, lên đến 90 % (Bui và ctv, 2010). Nguyên nhân chủ yếu gây chết là đo hiện tượng ăn thịt đồng loại trong khoảng thời gian 40 giờ sau khi nở đến 3 ngày tuổi và không có đủ thức ăn phủ hợp (Phạm Thanh Liêm và ctv. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng cho vùng nuôi và ương dưỡng chưa đồng bộ, hệ thống kênh cấp, kênh thoát dùng chung chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất, din đến khó quản lý môi trường va 11 lây lan dịch bệnh. Bên cạnh đó, vẫn chưa hình thành vùng sản xuất giống cá Tra tập trung, mặc du đã có quy hoạch (Tổng cục Thủy sản, 2017a).
Do đó, việc phát triển va áp dụng một mô hình nuôi mới đáp ứng được nhu cầu về chất lượng và số lượng là rất cần thiết. Theo Trần Thị Thanh Nga và Võ Thị Thu Em (2022), Nuôi trồng thủy sản nước tuần hoàn - RAS là một mô hình tiềm năng có thê thay thế mô hình ương nuôi truyền thống. RAS là công nghệ tái sử dụng lại nước trong hệ thống nuôi, đem lại khả năng kiểm soát tốt hơn trong điều kiện hạn chế tài nguyên — lợi ích bền vững môi trường, hiệu quả sản xuất được cải thiện — lợi ích kinh tế. Trong hệ thống tuần hoàn, nước được tuần hoàn nhằm loại bỏ các chất thải do cá bài tiết và bé sung lượng oxy cần thiết dé giữ cho đối tượng nuôi hoạt động ôn định.
Hệ thống này có thé 6n định được các thông số chất lượng nước như pH, nhiệt độ, khí độc,. tùy vào nhu cầu từng đối tượng. RAS còn được áp dụng rộng rãi trong sản xuất giống và sản xuất thương mại một số loài thủy sản như tôm thẻ chân trắng (Suantika và cộng sự, 2018), cá hồi Oncorhynchus mykiss (Pulkkinen va cộng sự, 2018), cá rô phi Oreochromis niloticus (Sri-uam et cộng sự, 2016), cá bớp Rachycentron canadum (Díaz-Muñoz va cộng sự, 2019) và đạt được nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về việc áp dụng hệ thống RAS vào ương nuôi cá Tra bột.
Do đó, dé tài “7n nghiệm ương nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) trong hệ thong tuan hoàn khép kín” được thực hiện nhằm tìm ra và phát T33 triển quy trình nuôi bền vững đáp ứng được nhu cầu về tỉ lệ sống và chất lượng con giống. Mục tiêu đề tài ° Ghi nhận tỉ lệ sống và tốc độ phát triển của cá Tra bột trong 14 ngày ° Thực hành và điều chỉnh phương pháp ương nuôi cá Tra trong hệ thống tuần hoàn RAS 12 Phan 2: TONG QUAN TÀI LIEU 2. Sơ lược về cá Tra 2. Phan loại Theo hệ thống phân loại của Robert và Vidthayanon (1991), thì cá Tra thuộc: Ngành: Chordata Lớp: Actinopteryg Bộ: Siluriformes Họ: Pangasiidae Giống: Pangasius Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) e Tên tiếng Anh: Striped catfish e Tên tiếng Việt: cá Tra 2.
Đặc điểm hình thái KW Hinh 2. Ca Tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) Theo Trương Thủ Khoa và Tran Thi Thu Hương (1993), cá Tra là loài cá da trơn, có thân dài, dẹp ngang, đầu nhỏ vừa phải. Miệng cận dưới, rộng ngang, không co duỗi được. Răng nhỏ, mịn, răng vòm miệng chia thành 4 đám nhỏ, mỏng, nằm trên đường vòm cung, đôi khi bị che lấp bởi lớp da vòm miêng.
Có hai đôi râu dài, râu mép kéo dai chưa chạm đến gốc vi ngực, râu cằm ngắn hơn. Mắt lớn, nằm trên đường thang ngang kẻ từ góc miệng, gần chót mõm hơn gần đến điểm cuối nắp mang. Vi lưng và vi ngực 13 có gai cứng, mang răng cưa ở mặt sau. Ở cá nhỏ, phần lưng của đầu và thân có màu xanh lục, ngoài ra còn có sọc xanh chạy dọc bên thân, sọc thứ nhất chạy dọc theo đường bên lỗ mang đến vi đuôi, sọc thứ hai ở bên dưới đường bên và chạy từ lỗ mang đến khởi điểm vi hậu môn.
Các sọc này nhạt dan và biến mắt khi cá lớn. Ở cá lớn, mặt lưng của thân và đầu có màu xanh xám hoặc xám đen và nhạt dần xuống bụng, bụng có màu trắng bạc. Nguồn gốc và đặc điểm phân bố Theo Nguyễn Chung (2008), cá Tra phân bồ rất rộng, xuất hiện ở hầu hết các lưu vực tự nhiên của hệ thống sông Cửu Long ở các nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Cá trưởng thành có kích thước lớn rất hiểm thấy ở ngoài tự nhiên, chủ yếu chi thay trong ao.
Ngày nay, do cá Tra được nuôi ở nhiều nước nên cá Tra cũng được tìm thấy ở nhiều lưu vực các sông lớn của các nước như Indonesia, Malaysia, Trung Quốc,. Ở Việt Nam, cá Tra phân bố ở vùng hạ lưu sông Cửu Long, có khả năng sống trong điều kiện ao tù, nước đọng, nhiều chất hữu cơ, hàm lượng DO thấp và có thé nuôi ở mật độ cao (Nguyễn Văn Kiểm, 2004). Ngoài ra, cá Tra cũng có ở hầu hết các sông rạch của Việt Nam như sông Đồng Nai, Vam Co, sông La Ngà,. các bé đầm ở các tỉnh vùng cao như Đắk Nông, Đắk Lắk, các sông miền Trung Việt Nam (Nguyễn Văn Chung, 2008).
Đặc điểm sinh trưởng Theo Nghiêm Thị Nguyệt Thu (2010), cá bột nở có chiều đải trung bình 3,5 — 4 mm, khối noãn hoàng còn lớn, vây lưng, vây đuôi, vây bụng và vây hậu môn dính liền với nhau. Có hai đôi râu trong đó đôi râu mép dài hơn chiều dài thân, mắt đen và lớn, trên thân chưa có sắc tố do đó cá có màu trắng trong. Miệng cá chưa cử động được, cá hoạt động liên tục và bơi theo chiều thắng đứng. Ca nở 2 — 3 ngày có chiều dải trung bình 5,5 — 6,5 mm.
Các vây vẫn dính liền thành một dai. Răng đã xuất hiện. Hàm đã cử động được và bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài. Trên thân xuất hiện nhiều sắc tố đen nhạt.
Cá hoạt động liên tục và thường bơi lội ở tầng ngang. Dai vây lưng và dai vây bụng đã xuất hiện vét lõm đề hình thành vây lưng, vây bụng. 14 Cá Tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, sau 1 năm nuôi cá đạt khối lượng 1 - 1,5 kg/con. Trong những năm sau cá lớn nhanh hơn, cá 10 năm tuổi có thé đạt đến 25 kg khi được nuôi trong ao (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
Giai đoạn nhỏ cá tăng trưởng nhanh về chiều đài, cá sẽ bước vào thời kỳ tích lũy mỡ khi đạt 2,5 kg. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng của cá phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường, mật độ thả nuôi, đặc biệt là chất lượng của thức ăn sử dung (Dương Nhựt Long, 2003). Cá Tra trong tự nhiên 1 năm tuổi có thé đạt 0,7 kg/con, 2 năm tuổi có thé lớn 1,5 — 2 kg/con và 3 năm tuổi có thé lớn 3 —4 kg (Nguyễn Chung, 2008). Sau 10 — 12 năm tuổi cá có thé đạt đến 20 — 25 kg/con.
Trong ao nuôi thâm canh cá đạt khối lượng 0,9 — 1,2 kg/con trong thời gian nuôi 5 — 6 tháng tùy theo kích cỡ thả giống (Nguyễn Thanh Phương và crv, 2010). Đặc điểm dinh dưỡng Cá Tra bột mới nở không có khả năng sử dụng thức ăn bên ngoài, chúng dinh dưỡng chủ yêu bằng noãn hoàng đến 2 — 3 ngày sau khi nở. Khi noãn hoàng gần hết, cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài (Nguyễn Văn Kiểm, 2009). Thức ăn của cá lúc nay là môi tươi sống và ăn liên tục các loại như luân trùng và các động vật nhỏ sống trôi nồi trong nước (Dương Nhựt Long, 2004).
Kết quả khảo sát cỡ miệng cá Tra thì miệng cá sau khi nở 30 giờ là 190 — 250 um (Trương Ngọc Trinh và ctv. 2015), ngày thứ 3 là 240 — 458 um (Phạm Thị Hồng, 2012); và cá bột chi bắt được thức ăn có kích thước tương đương phân nửa cỡ miệng (Shirota, 1970). Theo Dương Nhựt Long (2003), cá Tra là loài ăn tạp, trong tự nhiên cá ăn được mùn bã hữu cơ, ré cây thủy sinh, rau quả, tôm tép, cua, côn trùng, dc và cá. Cá hoạt động liên tục và rất hung dữ.
Một tập tinh của cá Tra bột mới nở là sự đớp mở miệng liên tục vi vậy khi cá bơi lội trong bể ương có mật độ dày rất dé đụng nhau gây hao hụt và gây nhằm lẫn với tập tinh ăn lẫn nhau. Đặc tính nay thé hiện cao nhất lúc cá được 5 đến 7 ngày tuổi, lúc này tỉ lệ hao hụt của cá cao nhất nếu giữ cá ở mật độ cao. Khi cá được 10 ngày tuôi thì hoạt động ăn lẫn nhau giảm dần đến 15 ngày tuổi thì không còn.