Mở đầu Chương 2: Tổng quan Chương 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 4 CHƯƠNG 2. Tổng quan về nguyên liệu lá tầm gửi 2. Nguồn gốc, đặc điểm, phân loại Thực vật ký sinh là một nhóm chức năng có tầm quan trọng không những về mặt sinh thái mà còn đối với kinh tế. Nhóm này chứa hơn 4500 loài từ 12 bộ đại diện cho nguồn gốc tiến hóa độc lập của ký sinh.
Thực vật ký sinh có mặt trên toàn thế giới, đặc biệt là trong các quần xã sinh vật lớn. Cây tầm gửi là nhóm ký sinh chồi thực vật hạt kín chiếm ưu thế và được tìm thấy trong nhiều hệ sinh thái bao gồm - rừng phương bắc, rừng mưa nhiệt đới và rừng khô cằn (Norton and Carpenter, 1998). Cây tầm gửi là một nhóm đa ngành gồm các loài ký sinh bắt buộc trên thân của cây chủ, gồm hơn 1300 loài thuộc 5 họ trong bộ Santales (Mis-odendronaceae, Eremolepidaceae, Santalaceae, Loranthaceae và Viscaceae). Trong đó thì tầm gửi kí sinh trên cây dâu tằm thuộc loại Loranthaceae.
Loranthaceae, họ tầm gửi lớn nhất (75 chi, khoảng 950–1000 loài), chủ yếu ở bán cầu nam và vùng nhiệt đới (Wilson và Calvin, 2006). 1: Cây tầm gửi dâu tằm Cây tầm gửi phụ thuộc vào vật chủ để lấy nước và khoáng chất nhưng ở một mức độ nhất định chúng có khả năng tự quang hợp, nên chúng được coi là thực vật ký sinh. Việc sử 5 dụng trực tiếp nguồn tài nguyên ký chủ và các hậu quả sinh lý do cây tầm gửi gây ra khiến chúng có khả năng gây hại cho cây ký chủ. Bản chất gây hại của cây tầm gửi được chứng minh bằng thực tế là nồng độ các khoáng chất như kali, phốt pho và magie trong lá cây tầm gửi thường vượt quá mức trong vật chủ tương ứng của chúng.
Tuy nhiên, cũng có vài nghiên cứu cho thấy rằng sự phá hoại của cây tầm gửi cũng có thể mang lại lợi ích cho vật chủ của chúng ( Van Ommeren và Whitham, 2002). Sự hiện diện và phong phú của cây tầm gửi trong một khu vực nhất định có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như sự phân bố của các loài ký chủ phù hợp, mức độ đặc hiệu của ký chủ, tác nhân phân tán, các loài thụ phấn, và tương tác hóa học giữa thực vật ký sinh và vật chủ (Yoder, 1999). Cây tầm gửi Loranthaceae được đại diện ở Châu Phi bởi 22 chi và gần 250 loài. Ở Nam Phi có 13 chi và 34–37 loài (Visser, 1986).
Dean và cộng sự (1994) nhận thấy rằng sự lựa chọn ký chủ của cây tầm gửi cho thấy sự phân bố không ngẫu nhiên ở Nam Phi. Các chi ký chủ quan trọng nhất là Acacia, Combretum, Maytenus và Rhus, lưu trữ ít nhất 24, 14, 13 và 12 loài tầm gửi tương ứng. Cây tầm gửi là thuật ngữ chung để chỉ thực vật ký sinh trên thân gỗ ở một số họ thực vật, đặc biệt là Loranthaceae, Viscaceae và hầu hết các chi tầm gửi châu Phi đều thuộc họ Loranthaceae (Polhill và Wiens, 1998). Bảy chi của họ Loranthaceae-Helixanthera, Berhautia, Englerina, Globimetula, Agelanthus, Tapinanthus và Phragmanthera với khoảng năm chục loài trở lên được công nhận ở Tây Phi (Burkill, 1985) và thuật ngữ nhóm cây tầm gửi, được sử dụng cho tất cả các loài này.
Ngoài ra, cây ký chủ cũng được coi là quan trọng như cây tầm gửi vì sự phân biệt được thực hiện giữa các cây ký chủ chứ không phải giữa các cây tầm gửi, ngụ ý rằng sinh học của loài Loranthaceae chưa được hiểu rõ ràng. Cây tầm gửi được tìm thấy trên nhiều loại cây trồng có tầm quan trọng kinh tế bao gồm cây bơ hạt mỡ (Vitellaria Paradoxa Gaertn.), các loài cây có múi, đặc biệt là cam ngọt (Citrus sinensis L.) và nho (Citrus paradisi L.), ca cao (Theobroma cacao L.) và cao su (Hevea brasiliensis Muell Arg) (Bright và Okusanya, 1998). Nhiều loài cây bán ký sinh này mọc trên các cây kinh tế, cây làm thuốc và cây trồng khác như cây dâu tằm (Morus alba), cây cóc thái (Spondias mombin L.), cây diêm sinh (Morinda lucida Benth). Những phát hiện này dường như mang lại sự tin cậy và ủng hộ cho câu ngạn ngữ Yoruba cho rằng cây tầm gửi không có rễ nhưng chúng (cây tầm gửi) có liên quan đến tất cả các vật chủ trên cây.
Bên cạnh những mặt lợi thì cũng có vài mặt xấu về cây tầm gửi chẳng hạn như người nông dân 6 hoặc người làm vườn coi cây tầm gửi là loài ký sinh khét tiếng và tàn phá, gây thiệt hại nghiêm trọng cho các cây có giá trị kinh tế như ca cao, cao su, hạt cola và các cây thuốc như cây nhàu (Morinda lucida) và ba gạc (Rauwolfia vomitoria) dù mọc trong rừng hoang hay vườn cây ăn quả ( Sridhar và Rao, 1978). Thành phần hóa học Hiện nay không có nhiều tài liệu về thành phần hóa học của nhiều loại cây tầm gửi. Có vài thông tin hóa học sẵn có bao gồm xác định cấu trúc của polysaccharide trong thành tế bào lá Phragmanthera Capitata được phân lập, tinh chế và nghiên cứu các hoạt động trao đổi chất của peptide từ lá tươi của Phragmanthera incana. Thành phần đặc biệt nhất của hầu hết các cây tầm gửi châu Âu và châu Á là protein, viscotoxin, lectin và carbohydrate.
Các hợp chất có trọng lượng phân tử nhỏ bao gồm flavonoid và phenylpropanoid thuộc các loại cấu trúc khác nhau và chúng góp phần tạo nên đặc tính chống oxy hóa của các chiết xuất Loranthaceae khác nhau được kiểm tra. Nhiều báo cáo về sự tồn tại của các hợp chất có trọng lượng phân tử nhỏ hơn, alkaloid, flavonoid, tannin và các thành phần thực vật khác trong họ Loranthaceae chưa được chứng minh bằng cách phân lập và nhận dạng thích hợp. Do đó, còn rất nhiều điều cần được nghiên cứu để đánh giá đầy đủ thành phần hóa học của cây tầm gửi. 1: Thành phần hóa học của các loài tầm gửi Các loài tầm Tài liệu tham Thành phần hóa học gửi khảo Phragmanthera Pectin and hemicellulose Aboughe Angone capitata polysaccharides và cộng sự, 2009 Phragmanthera Phragmanthin Fasanu and incana Oyedapo, 2008 Glycoproteins; mistletoe lectins I, II, and Obata, 1941 III, proteins; viscotoxins and Samuelsson and Pettersson, 1971 polysaccharides; galacturonan, Schaller và cộng arabinogalactan Viscum album sự, 1998 Margaret Loeper, 1999 Deliorman và cộng sự, 2000 V.
articulatum Triterpenoids and polyphenolics and Jadhav và cộng sự, Helianthus 2010 elastica (Ders.) Bốn flavonoid chống khối u rhamnopyranosides được xác định là Loranthus rhamnetin 3-O-α-L-rhamnoside, quercetin Kim và cộng sự, tanakae Fr. 3-O-α-L-rhamnoside, rhamnocitrin 3-O-α-L- rhamnoside and kaempferol 3-O-α-L- rhamnoside. 8 Taxillus Hyperin and quercitrin với fatty acids, Fukunaga và cộng yadoriki phytosterol and phytosterol glucoside. sự, 1989 Fatty acids, phytosterol, Taxillus Fukunaga và cộng Phytosterol glucoside, quercetin, avicularin kaempferi sự, 1989 and taxillusin; also quercitrin and hyperin Chrysoeriol-4′-O-glucoside, fatty acids, Korthalsella phytosterol, oleanolic acid and Fukunaga và cộng japonica Engler phytosterol glucoside.
sự, 1989 Đặc tính phenolic ở các loài cây tầm gửi rất khan hiếm vì thế các nghiên cứu đa phần chủ yếu tập trung vào đặc tính chống tăng sinh của terpen như acid moronic từ loài thực vật này. Trong nghiên cứu phát hiện ra rằng acid phenolic dồi dào nhất được tìm thấy trong lá, thân và toàn bộ cây là acid ferulic và quinic. Các chất chuyển hóa này đã được báo cáo là chất chống oxy hóa mạnh, thuốc chống viêm và tác nhân tiềm năng chống tăng cholesterol máu và tăng đường huyết. Tuy nhiên, các hợp chất này dễ bị phân hủy trong quá trình tiêu hóa chủ yếu do điều kiện pH trong từng giai đoạn tiêu hóa, điều này có thể cản trở hoạt động sinh học của chúng.
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng việc truyền cây tầm gửi vẫn có tác dụng ức chế lipase tuyến tụy sau khi trải qua quá trình tiêu hóa trong ống nghiệm. Trong trường hợp dịch truyền từ thân cây, hoạt tính ức chế lipase tăng từ 54,12% lên 78,49% khi kết thúc quá trình tiêu hóa. Điều này có thể cho thấy sự hình thành các dẫn xuất mới trong quá trình tiêu hóa có thể làm tăng sự tương tác với lipase tuyến tụy, ngoài ra thì vấn đề chưa được công bố rõ và vẫn đang được đánh giá đầy đủ trong nghiên cứu thực nghiệm. Hơn nữa, cần nhiều nghiên cứu hơn để đánh giá các thành phần flavonoid trong dịch truyền cây tầm gửi, xác định các phân tử hoạt động chống lại lipase tuyến tụy và chuyển sang nghiên cứu in vivo.
Ngoài ra, nghiên cứu này cho thấy cây tầm gửi có thể được sử dụng như một nguồn phenolics trong việc mở rộng phát triển một số thực phẩm chức năng có khả năng hạ đường huyết. 9 Thành phần hóa học của Loranthus parasiticus Merr (cây tầm gửi kí sinh trên cây dâu tằm): người ta đã chứng minh rằng các loài Loranthus nói chung là nguồn giàu các hợp chất hoạt tính sinh học khác nhau. Nghiên cứu thành phần chung của L. parasiticus cho thấy nó chứa hàm lượng chất xơ thô rõ rệt lên tới 82,28%.
Nó cũng chứa 9,21% độ ẩm, 2,44% tro, 2,70% protein thô, 0,77% chất béo thô và 2,60% các thành phần khác (Chen và cộng sự, 2003). Hiện nay thì con người ngày càng quan tâm đối với cây thuốc thảo dược có đặc tính chữa bệnh vì chúng có chứa chất phytochemical trong những cây này có thể là chất chống oxy hóa mới tiềm năng (Tawaha et al, 2007). Tác dụng tăng cường sức khỏe của chất chống oxy hóa từ thực vật được cho là phát sinh từ tác dụng bảo vệ của chúng bằng cách chống lại các loại oxy phản ứng. Một số báo cáo chỉ ra rằng khả năng kháng oxy hóa của cây thuốc có thể liên quan đến nồng độ các hợp chất phenolic của chúng bao gồm axit phenolic, flavonoid, anthocyanin và tannin (Wong và cộng sự, 2006).c,teolin bị ảnh hưởng bởi sự tương tác của chúng với n 2.
Hoạt tính sinh học và ứng dụng dược học ❖ Hoạt tính sinh học Cây tầm gửi là tên được đặt cho các nhóm loài thực vật ký sinh khác nhau, chủ yếu bao gồm năm họ thực vật Loranthaceae, Misodendraceae, Santalaceae, Amphorogynaceae và Viscaceae. Các loài tầm gửi của Mỹ và Châu Âu đã được sử dụng trong y học cổ truyền nhằm chống lại bệnh ung thư như tác nhân hạ đường huyết và hạ huyết áp ( Freuding M. và cộng sự, 2019). Các nghiên cứu dân tộc học đã chỉ ra rằng cây tầm gửi có đặc tính chống oxy hóa, chống viêm, trị đái tháo đường, hạ huyết áp và kháng khuẩn(Kienle G.
và cộng sự, 2010). Những hoạt tính sinh học này có liên quan đến các chất hóa học thực vật như terpen, alkaloid và các hợp chất phenolic( Alonso-Castro A., và cộng sự, 2012).