Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Định hướng ứng dụng Theo từ điển Tiếng Việt, “định hướng” được định nghĩa là “xác định phương hướng” và “ứng dụng” được định nghĩa là “đem lí thuyết dùng vào thực tiễn”[24].Trong lĩnh vực giáo dục, định hướng là hoạt động thiết kế cho tập thể và cá nhân ở các cấp học để có thể chuẩn bị hành trang tốt nhất cho tương lai của người học. Theo Dự án POHE, “định hướng ứng dụng” là một khái niệm giáo dục toàn diện được thiết kế để cung cấp cho các cá nhân với các thông tin và kinh nghiệm để chuẩn bị cho họ sống và làm việc trong một môi trường luôn thay đổi về kinh tế, xã hội. Theo Nghị định 73/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học đã xác định rõ ràng về định hướng ứng dụng trong giáo dục ở bậc đại học. Định hướng ứng dụng mang ý nghĩa của cả một chương trình đào tạo có mục tiêu và nội dung xây dựng theo hướng phát triển kết quả nghiên cứu cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành giải pháp công nghệ, quy trình quản lí, thiết kế các công cụ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu đa dạng của con người.
Với đề tài nghiên cứu của chúng tôi, “định hướng ứng dụng” mang ý nghĩa của mục tiêu đào tạo trong trường đại học, từ mục tiêu này mà nội dung chương trình, phương pháp dạy học, việc kiểm tra đánh giá toàn bộ quá trình học tập của sinh viên sẽ hướng tới việc người học thích ứng với thực tiễn nghề nghiệp, đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đòi hỏi.2 Những đặc điểm của định hướng ứng dụng trong giáo dục đại học Tác giả Phạm Thị Ly, Viện đào tạo quốc tế, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh đưa ra những đặc điểm cơ bản của giáo dục đại học theo định hướng ứng dụng. Thứ nhất, chương trình đào tạo dựa trên hồ sơ năng lực nghề nghiệp, được xây dựng thông qua khảo sát ý kiến của nhà tuyển dụng và nghiên cứu nhu cầu của thế giới việc làm 14 một cách có hệ thống. Chương trình tích hợp kiến thức lí thuyết kết hợp với thực hành và đào tạo các kĩ năng mềm, tập trung vào thực hành nghề nghiệp của sinh viên. Thứ hai, phương pháp giảng dạy nhấn mạnh sự tương tác và hợp tác, nhấn mạnh kĩ năng làm việc theo nhóm và hoạt động độc lập.
Thứ ba, việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên nhất quán với mục tiêu của chương trình, không chỉ là đánh giá kiến thức lí thuyết, mà còn đánh giá khả năng thực hành nghề nghiệp của sinh viên. Thứ tư, hoạt động nghiên cứu tập trung vào các đề tài ứng dụng, chuyển giao công nghệ và cải thiện nghề nghiệp.[13] Tài liệu của dự án POHE “Phát triển chương trình đào tạo đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng”đưa ra 6 đặc trưng cơ bản của đào tạo đại học theo định hướng nghề nghiệp như sau: 1. Chương trình đào tạo mở và dựa vào năng lực. Các chương trình đào tạo được xây dựng dựa trên hồ sơ năng lực thể hiện các phẩm chất nghề nghiệp cốt yếu mà các nhà tuyển dụng mong muốn sinh viên khi tốt nghiệp được trang bị.
Bên cạnh đó, chương trình đào tạo có tính mềm dẻo và cởi mở để thích hợp cho việc điều chỉnh chương trình thich hợp với những đổi thay của thị trường lao động. Xác định phẩm chất nghề nghiệp của sinh viên rõ ràng. Các phẩm chất nghề nghiệp mà sinh viên cần được trang bị: + Nghề nghiệp có tính thích ứng và phổ rộng: sinh viên được trang bị những kiến thức và kĩ năng cập nhật nhất dựa vào những kết quả nghiên cứu, các công nghệ và kĩ thuật tiên tiến. + Có tính liên ngành: Sinh viên tốt nghiệp có khả năng tích hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để hoàn thành tốt công việc chuyên môn.
Bên cạnh các năng lực chuyên môn, họ còn được trang bị các kĩ năng mềm để có thể xử lí các tình huống trong công việc. + Ứng dụng khoa học kĩ thuật vào thực tiễn: Sinh viên có khả năng triển khai các nghiên cứu ứng dụng trong phạm vi chuyên môn của mình. 15 +Chuyển giao công nghệ và khả năng giải quyết vấn đề: Trong hồ sơ năng lực của sinh viên, việc ứng dụng kiến thức và kĩ năng trong các tình huống nghề nghiệp khác nhau được thể hiện một cách rõ ràng. + Tính sáng tạo và phức tạp trong hành động: Sinh viên có khả năng sử dụng các chiến lược giải quyết vấn đề khác nhau trong các tình huống nghề nghiệp khác nhau.
+ Làm việc theo cách giải quyết vấn đề: Sinh viên có khả năng xác định và phân tích các vấn đề phức tạp trong tình huống nghề nghiệp sử dụng các giải pháp chiến lược khác nhau. + Được đào tạo để có được các kĩ năng mềm như: Kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng quản lí, kĩ năng giao tiếp xã hội, thể hiện năng lực tiên phong trong lĩnh vực chuyên môn. + Có khả năng tự thể hiện tư duy và hành động, làm việc có tổ chức. + Có tinh thần trách nhiệm với xã hội và sẵn sàng thay đổi khi cần thiết.
+ Có khả năng học tập suốt đời, luôn biết cách cập nhật và mở mang hiểu biết. Sự tham gia của thị trường lao động vào quá trình đào tạo. Việc tham gia của thị trường lao động vào quá trình đào tạo được thực hiện thông qua các hoạt động như tài trợ kinh phí, thu nhận sinh viên thực tập tại cơ sở, tham gia thỉnh giảng, hướng dẫn sinh viên thực tập nghề nghiệp, thực tập tốt nghiệp, tham gia đánh giá kết quả học tập của sinh viên…Để tuyển dụng được những người có năng lực phù hợp, sự tham gia của thế giới nghề nghiệp vào quá trình đào tạo mang lại những lợi ích thiết thực cho cả 2 bên. Phương pháp học dựa vào năng lực.
Phương pháp học dựa vào năng lực là một phương pháp học tập trung vào những gì người học có thể làm được sau khi được đào tạo. Phương pháp học này đặt trọng tâm cụ thể vào việc tiếp thu năng lực trong quá trình học tập bằng cách kết hợp năng lực vào trong các bài tập lớn. Phương pháp học dựa vào năng lực có 3 thành phần cơ bản: kiến thức + kĩ năng + thái độ nghề nghiệp. Kết hợp các phương pháp sư phạm.
16 Trong tiếp cận đào tạo theo định hướng ứng dụng, giảng viên trở thành người hướng dẫn hay người huấn luyện, sinh viên khi đó là người được dẫn dắt, nội dung kiến thức được thay thế bằng các năng lực. Khả năng của sinh viên được hoàn thiện khi đạt được các năng lực đó. Hoạt động đào tạo tiến hành qua các mô-đun, trong đó sự phối hợp giữa các phương pháp giảng dạy cần được áp dụng. Trong các mô-đun lí thuyết thường xuất hiện các phương pháp phổ biến sau: thuyết trình, thảo luận nhóm, thí nghiệm/thực hành, thực hiện các bài tập…Ở các mô-đun thực hành, các phương pháp hay được áp dụng là: giải quyết vấn đề, thực hành theo công việc, giám sát và tư vấn… Các hoạt động học tập được tổ chức trong các môi trường và bối cảnh khác nhau như lớp học, phòng thí nghiệm, ngoài thực địa, các cơ sở lao động…để giúp sinh viên trải nghiệm các tình huống thực trong nghề nghiệp và thực hành kĩ năng.
Đánh giá kết quả học tập của sinh viên dựa vào năng lực. Dạy học theo định hướng ứng dụng đòi hỏi sự đánh giá dựa trên năng lực của người học. Một loạt các phương pháp đánh giá được áp dụng để thu thập các minh chứng thể hiện quá trình hình thành năng lực và kết quả cuối cùng mà sinh viên đạt được khi kết thúc mô-đun, học kì, năm học hay khi tốt nghiệp. Người đánh giá không chỉ là giảng viên, mà có thể là chuyên gia từ thị trường lao động, sinh viên.
Sự tham gia từ phía thị trường lao động vào việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên rất quan trọng, bởi vì đó là thông tin quan trọng cho người học nhận biết khả năng thích ứng, tham gia vào môi trường nghề nghiệp sau này của mình và có kế hoạch điều chỉnh quá trình học tập. Sinh viên tham gia vào đánh giá (dưới hình thức tự đánh giá, đánh giá chéo) là cần thiết khi áp dụng các hình thức học tập theo nhóm, phản hồi từ các đợt thực tập nghề, đồ án và thực hành. Ngoài phương pháp đánh giá dựa vào sản phẩm (các bài thi, kiểm tra, bài tập lớn) thì đánh giá quá trình học tập là cách đánh giá rất quan trọng trong dạy học theo định hướng ứng dụng. Đây là cách đánh giá giảm thiểu tính chất may rủi khi kết quả phụ thuộc vào một bài thi hay kiểm tra.
Nó đánh giá được cả thái độ của người học như sự nỗ lực, sự tìm tòi sáng tạo trong cách học hay ngược lại, sự trì trệ, ỷ lại, thiếu cố gắng… Đánh giá kết quả học tập dựa vào năng lực khuyến khích sinh viên trở thành người quản lí thông thái quá trình học tập của mình, đặc biệt trong việc rèn luyện kĩ năng nghề 17 nghiệp và các kĩ năng mềm. Đối với quá trình dạy học, nếu không có khâu đánh giá cuối cùng này, định hướng ứng dụng sẽ trở nên khập khiễng và không thể khả thi.2 Tìm hiểu chung về phương pháp dạy học ở đại học Đặng Vũ Hoạt đưa ra khái niệm phương pháp dạy học ở đại học:“Tổng hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và sinh viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật, cán bộ quản lí, nghiệp vụ có trình độ đại học.” [11,tr112] Đặng Vũ Hoạt hệ thống các phương pháp dạy học ở đại học như sau: Kiểu phương pháp Các phương pháp Nhóm phương pháp Thầy Trò cụ thể Thông báo Tái hiện Dùng lời và chữ Thuyết trình Vấn đáp Sử dụng sách, tài liệu Giải thích Tìm kiếm bộ Trực quan Trình bày trực quan phận Trình bày thí nghiệm Sử dụng băng ghi âm, ghi hình Nêu vấn đề Nghiên cứu Hành động thực tiễn Quan sát Độc lập làm thí nghiệm Luyện tập Ôn tập Các kiểu phương pháp dạy học được Đặng Vũ Hoạt mô tả cụ thể: 1.1 Thông báo – tái hiện Về thực chất, đây là kiểu phương pháp trong đó thầy thông báo cho sinh viên 18 những tri thức và biểu diễn những cách thức hành động cần thiết. Sinh viên dưới tác dụng tổ chức, điều khiển của thầy, lĩnh hội và tái hiện những điều đã học.