Chương I: Cơ sở thực tiễn. - Chương II: Xây dựng tiến trình dạy học khám phá nội dung “Phuong trình trạng thái” có sử dung thí nghiệm vật lý đại cương của Trường Đại học Sư phạm Thành phố H6 Chí Minh cho học sinh lớp 12 theo Chương trình Giáo dục phô thông 2018. - Chương III: Thực hiện lấy ý kiến chuyên gia, thu thập số liệu. - Chương IV: Kết luận.
Tài liệu tham khảo. 10 CHƯƠNG!: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA DE TÀI 1. TONG QUAN VE DE TÀI Các PPDH tích cực đang được nghiên cứu và phát trién rộng rãi trong cơ sở giáo dục các cấp. Các PPDH tích cực pho bién ngày nay là day học dự án, day học SE, day học STEM, dạy học dự án,.
Các đề tài xây dựng tiền trình day học khám pha đã được thực hiện với các môn trên chương trình giáo dục phô thông 2006, trong đó có Vật lí. Dạy học khám phá khởi nguồn từ thuyết kiến tạo của Piaget Tác giả Nguyễn Minh Trí (Trí, 2010) trong luận văn thạc sĩ của mình đã tìm hiểu vẻ cơ sở lí luận của phương pháp day học khám phá áp dụng vào nội dung chương “Chat khí” nhưng chưa đưa ra tiền trình dạy học cụ thé cho từng tiết học, hoạt động Tác giá Nguyễn Thanh Tú (Tú, 2020) đã thực hiện nghiên cứu về việc phát triển tư duy cho HS trong dạy học "Động lực học chất điểm” Vật lí 10 trung học phô thông bằng cách vận dụng phương pháp dạy học khám phá. Trong nghiên cứu này, tác giả đã thiết kế rất chỉ tiết tiến trình cho từng tiết dạy, bài dạy. Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu chương trình giáo dục phô thông 2006 thay vì chương trình giáo dục phô thông mới 2018 Tác giả Lê Hải Mỹ Ngân (Ngân, 2013) đã trình bày rõ ý nghĩa nội hàm của phương pháp day học khám phá.
Tuy nhiên tiến trình mà tác giả đưa ra chưa có mỗi quan hệ với chu trình khám phá ở phần cơ sở lí luận. Trong bài luận này, tôi sẽ thực hiện việc nghiên cứu cơ sở lí luận của day học khám phá. xây dựng tiến trình dạy học khám phá nội dung “Phương trình trạng thái” thuộc mạch nội dung “Khí lí trong” nằm trong chương trình giáo dục pho thông mới 2018 môn Vật lí. không thê khang định dạy học khám phá là PPDH tối ưu nhất.
Trong quá trình giảng day, GV luôn cần kết hợp, thay đổi linh hoạt các phương pháp dé phù hợp với yêu cau bài day và kiến thức cần truyền tải. DẠY HỌC KHÁM PHA Ll. Lý thuyết kiến tạo Lý thuyết kiến tạo được hình thành chủ yếu dựa trên các công trình nghiên cứu của hai nhà khoa học 1a Piaget và Bruner. Trước thuyết kiến tạo, mọi người tin rằng việc học vẹt và học gạo sẽ khuyết khích học tập.
Nhưng thực tế, việc dạy học như trên chỉ giúp GV kiểm tra trí nhớ của HS chứ không khuyến khích việc các em tư duy. Chi bằng việc ghi nhớ các kiến thức có sẵn từ quá khứ thì tương lai chúng ta không thẻ có các phát hiện mới. Lý thuyết kiến tạo ra đời nhằm khang định rằng cá nhân phát triển nhận thức thông qua kiến tạo hay xây dựng kiến thức của mình trong hành động và trong tình huéng. Con người đựa vào cái đã biết và điều chỉnh thành cái mới để phù hợp với tình huỗng và thực tiễn yêu cầu Lý thuyết kiến tạo của Bruner dựa trên hai nguyên lý: Kiến thức được người học kiến tạo một cách chủ động mà không phải được tiếp nhận một cách bị động từ môi trường Học là một quá trình thích nghi dựa trên kinh nghiệm mà người ta có về thể giới và kinh nghiệm này không ngừng được bô sung và phát triển Theo lý thuyết nhận thức của Piaget Học tập kiến tạo là sự tác động qua lại giữa cá nhân người học và môi trường dẫn tới sự phát trién về nhận thức.
Trong quá trình tác động, trẻ chap nhận tat cả các ý tưởng, sau đó có thẻ loại bỏ những ý tưởng sai. Do đó, sự hiểu biết của trẻ được xây dựng từng bước thông qua sự tham gia tích cực của trẻ trong quá trình tương tác với môi trườn. Phát triển nhận thức là một nội quá trình độc lập ít nhạy cảm với các hiệu ứng bên ngoài, đặc biệt các hiệu ứng của người dạy Sự phát triển này mang tính phô biến về được thực hiện qua các bước liên tiếp nhau. Khi một cá nhân đạt tới một trình độ hoạt động logic có thẻ lập luận một cách logic dù nội dung kiến thức là gì.
Người học chỉ có thẻ “đồng hóa” các kiến thức mới nêu có các cấu trúc nhận thức cho phép — Thiết kế bài học kiến tạo (TKBHKT) là kiêu bài học được thiết kế và tiến hành theo lí thuyết kiến tạo, trong đó những hoạt động giảng day và học tập mang tính chủ động, quá trình học được định hướng theo chiến lược kiến tạo, quá trình dạy có chức năng khuyến khích, chỉ dẫn và tập trung vào hoạt động người học — Học tập kiến tao là kiểu học tập trong đó HS chủ động tìm tòi, khám phá, phát hiện tri thức mới. cách thức hoạt động mới, GV chỉ giúp đỡ định hướng dé HS có thé tự khai sáng. Theo đó, có ba hình thức khám phá: qua hành động (hiểu việc đọc sách thông qua hảnh động cam và lật từng trang sách); qua hình ảnh (các mô hình, sơ đô.) và qua các kí hiệu ngôn ngữ, mệnh đẻ. Từ đây, có các hành động học tập tương ứng của người học: 1.
Hành động phân tích ( băng tay) sự vật; 2. Hanh động mô hình hóa; 3. Hành động biêu tượng (kí hiệu hóa): 4. Hành động ứng dụng 12.
Lịch sử nghiên cứu a. Day học khám phá của Jerome Bruner Theo một số nhà nghiên cứu, trong day học khám phá người học cần có một số kỹ năng nhận thức như: quan sát, phân loại. phân tích, tiên đoán, mô tả, khái quát hóa. luận ra (infer), hình thành giả thuyết (hypothesis generation), thiết kế thí nghiệm, phân tích dữ liệu.
Bruner được xem la người đầu tiên đưa ra khái niệm “day học khám phá” trong công trình “The Process of Education” vào năm 1960 Bruner cho rằng việc học tập phải là một quá trình tích cực trong đó HS kiến tạo ý tưởng mới hay khái niệm mới trên cơ sở vốn kiến thức của họ. Ông dé nghị rằng việc đạy học phải làm sao khuyến khích người học khám phá ra các dữ kiện và các mỗi liên hệ cho chính họ. Khi con người trải nghiệm thực tế, bộ não con người sẽ tạo ra trật tự trong một lĩnh vực băng cách tạo ra các danh mục dựa trên các mô hình lặp lại. Thuật ngữ cho hoạt động nhận thức cụ thê này là phân tích quy nạp.
Danh mục là sự phân loại các mục tiêu đựa trên các thuộc tính chung. Ý tưởng là sự thẻ hiện tinh thần của các mục trong một danh mục. Mot khái niệm có các thuộc tính xác định trong đó mô tả rõ rang các yeu tô cần thiết để một thứ trở thành một khái niệm 13 Cả kỹ năng và khái niệm trước tiên đều nên được dạy ở dạng đơn giản nhất. Điều này cung cap một nén tang dé gắn kết các kỹ năng cao cấp hoặc phức tạp hon va khái niệm sau này Bruner đề xuất mô hình day học được đặc trưng bởi bốn yeu tố chủ yếu - Cầu trúc tôi ưu của nhận thức - Câu trúc của chương trình dạy học - Hành động tìm tòi khám phá của học viên - Bản chất của sự thưởng/phạt b.
Day học khám phá của Goeffrey Petty Geofrey Petty cho răng, có hai cách tiếp cận trong day học đó là: day học bằng cách giải thích và dạy học bằng cách đặt câu hỏi. Với dạy học bằng cách đặt câu hỏi, GV đặt câu hỏi hoặc giao bài tập yêu cầu HS phái tự tìm ra kiến thức mới- mặc di vậy vẫn có sự hướng dẫn hoặc chuân bị đặc biệt. Kiến thức mới nảy được GV chỉnh sửa và khang định lai, Kham phá có hướng dẫn là một ví đụ của cách tiếp cận này. Dạy học khám phá chỉ có thê được sử dụng nếu người học có khả năng rút ra được bài học mới từ kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình c.
Ban chất dạy hoc khám phá Trong mô hình dạy học khám phá, GV sử dụng các câu hỏi, van dé và tình huéng dé giúp HS suy nghĩ và khám phá ra kiến thức. Thay vì chí đơn giản trình bày vốn hiéu biết của mình, GV khuyến khích HS nói về một vấn dé và dựa vào trực giác của cá nhân đẻ hiểu nó. Dạy học khám phá cũng tập trung vào việc để HS đặt câu hỏi của chính họ - về cơ bản là cung cấp câu hỏi của riêng họ. Câu hỏi do HS dẫn dắt theo câu hỏi có sự hướng dẫn của GV.
Thay vì giảng về mục tiêu học tap, GV xây dựng môi trường học tập và giúp HS khám phá nó thông qua các câu hỏi và trải nghiệm Theo Bicknell — Holmes and Hoffman (2000), dạy học khám phá có ba đặc điểm sau đây: - Khảo sát và giải quyết van dé dé hình thành, khái quát hóa kiến thức. Đặc điểm thứ nhất này là rat quan trọng. Thông qua việc khảo sát và giải quyết van dé, HS có vai trò tích cực trong việc tạo ra kiến thức, thay cho việc chỉ lắng nghe bài giảng, 14 HS có cơ hội vận dụng các kĩ năng khác nhau trong các hoạt động, HS chính là người làm chủ việc học chứ không phải là thầy giáo - HS thu hút vào hoạt động, hoạt động dựa trên sự hứng thú và ở đó HS có thê xác định được trình tự và thời gian. Đặc điểm thứ hai này khuyến khích HS hoạt động theo nhịp độ riêng của mình.
Học tập không phải là một tiến trình cứng nhắc không thay đôi được. Đặc điểm này giúp HS có động cơ và làm chủ việc học của mình - Hoạt động khuyến khích việc liên kết kiến thức mới vào vốn kiến thức của người học. Đặc điểm thứ ba nảy là dựa trên nguyên tắc là sử dụng kiến thức mà HS đã biết làm cơ sở cho việc xây dựng kiến thức mới. Trong dạy học khám phá, HS luôn luôn đặt trong những tình huống sao cho từ kiến thức vốn có của mình các em có thé mở rộng hay phát hiện ra những ý tưởng mới.