CHƯƠNG 1. CƠ SỞ H䤃 NH THÀNH LUẬN VĂN Nấm ăn là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, chứa nhiều protein, vitamin và các acid amin thiết yếu. Nấm còn có nhiều tác dụng dược lý như: tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, kháng ung thư và kháng virus, ngăn ngừa và trị liệu các bệnh tim mạch, hạ đường máu, chống phóng xạ, chống oxy hóa, giải độc và bảo vệ tế bào gan, an thần, rất có lợi cho việc điều chỉnh hoạt động của hệ thần kinh trung ương. Các loại nấm được trồng phổ biến hiện nay là mộc nhĩ, nấm rơm, nấm mỡ, nấm bào ngư, nấm linh chi các loại… Việt Nam là nước có tiềm năng lớn về sản xuất nấm do có nguồn nguyên liệu trồng nấm phong phú, điều kiện thời tiết thuận lợi, nhất là các tỉnh phía nam thường chỉ có hai mùa mưa và nắng, không có mùa đông; nền nhiệt trung bình trên dưới 30⁰C rất thuận lợi cho sự phát triển nhiều chủng loại nấm và có thể trồng nấm quanh năm.
Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ nấm trong nước, đặc biệt là ở thị trường lớn như Tp. Hồ Chí Minh, đang tăng nhanh. Do đó, nấm đang được trồng ngày càng nhiều. Trong các loại nấm được trồng phổ biến ở nước ta hiện nay, nấm rơm là loài được trồng nhiều nhất.
Nấm rơm được trồng khắp các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và Ðông Nam Bộ, chiếm đến 90% tổng sản lượng nấm rơm của cả nước. Qua quá trình phát triển, khu vực phía nam đã hình thành các vùng chuyên canh nấm lớn như Ðồng Nai (gần 1.400 hộ, cơ sở sản xuất và chế biến nấm), An Giang (10 tổ hợp tác sản xuất nấm rơm, sản lượng hơn 40 nghìn tấn/năm), Ðồng Tháp (hơn 10.000 tấn nấm rơm/năm), Vĩnh Long (trồng khoảng 6.000 ha nấm rơm với sản lượng khoảng 8. Nấm rơm được sử dụng phổ biến trong ẩm thực châu Á. Đây là một trong những loài nấm ăn có hàm lượng protein cao và phát triển nhanh.
Nấm rơm chứa 2,66 - 5,05% protein với đầy đủ 19 loại acid amin, trong đó có 8 loại acid amin không thay thế. Lượng chất béo trong nấm rơm khoảng 3% (trọng lượng khô), trong đó chất béo chưa bão hòa chiếm 58,8%, chủ yếu là tiền vitamin D2 (ergocalciferol) và γ-ergosterol. Các loại vitamin trong nấm rơm khá phong phú như vitamin B1, B2, acid nicotinic, vitamin C… (Nguyễn Lân Dũng, 2002). 2 Thói quen của hầu hết người tiêu dùng là sử dụng nấm rơm tươi còn búp, chưa bung mũ.
Đặc biệt, nhu cầu và giá thành nấm rơm có xu hướng tăng cao vào các dịp lễ tết và các ngày ăn chay trong tháng. Tuy nhiên, nấm rơm lại khó bảo quản tươi. Sau khi thu hái, nấm rơm dễ bị mất nước, hóa nâu, thối nhũn hoặc bị biến chất. Do đó, nấm rơm sau khi thu hái chủ yếu được bán lẻ, bán trực tiếp cho đầu mối tiêu thụ trong thời gian ngắn hoặc bảo quản dưới dạng nấm khô hay muối đóng hộp.
Hiện nay, Việt Nam đã có nhiều đề tài, dự án tập trung vào quy trình sản xuất giống nấm, quy trình chế biến nấm rơm và các hợp chất sinh học từ nấm rơm được thực hiện. Trong khi đó, những vấn đề như hiệu quả quản lý trong suốt thời gian sau thu hoạch, kéo dài thời gian bảo quản để duy trì được chất lượng sản phẩm tốt nhất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn chưa được chú trọng. Việc kéo dài thời gian bảo quản nấm rơm tươi sẽ giúp hạn chế thiệt hại do thối hỏng, làm tăng giá trị cho sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế của việc trồng và thương mại nấm rơm. Từ những thuận lợi và khó khăn nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát phương pháp bảo quản nấm rơm tươi Volvariella volvacea” nhằm khảo sát đánh giá và hoàn thiện quy trình bảo quản sau thu hoạch đối với nấm rơm để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Kết quả đạt được của đề tài không chỉ giúp ổn định nguồn cung ứng nấm rơm mà còn phục vụ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Khảo sát hiệu quả của các phương pháp bảo quản nấm rơm tươi giúp kéo dài thời gian bảo quản và duy trì được chất lượng sản phẩm. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Khảo sát các quy trình nuôi trồng, thu gom, đóng gói và vận chuyển nấm rơm sau thu hoạch tại các vùng. Thử nghiệm một số phương pháp bảo quản nấm rơm tươi nhằm tăng thời gian bảo quản.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu: Nấm rơm tươi Volvariella volvacea ngay sau khi thu hoạch từ các trại trồng nấm và đầu mối thu mua nấm rơm tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Phạm vi nghiên cứu: Thử nghiệm một số công nghệ mới trong bảo quản nấm rơm giúp tăng thời gian bảo quản nấm rơm tươi sau thu hoạch. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Cách tiếp cận: - Thu thập các giống nấm rơm tại các vùng nuôi trồng chính ở phía Nam và xác định các chỉ tiêu chất lượng quả thể nấm tươi để làm cơ sở dữ liệu cho đánh giá chất lượng nấm trong thử nghiệm các phương pháp bảo quản. - Khảo sát quy trình nuôi trồng, thu hái và xử lý nấm sau thu hoạch tại các vùng nuôi trồng chính, từ đó đề xuất các thông số thử nghiệm cho các phương pháp bảo quản nấm sau thu hoạch trong điều kiện thông thường và công nghệ cao.
- Tham khảo các tài liệu khoa học liên quan đến bảo quản nấm rơm tươi để thảo luận, đánh giá các kết quả và đề xuất phương pháp bảo quản giúp tăng thời gian bảo quản nấm rơm tươi sau thu hoạch. Phương pháp sử dụng: - Phương pháp sử dụng để khảo sát các quy trình thu hoạch và xử lý nấm rơm sau thu hoạch tại các vùng nuôi trồng chính ở phía Nam: ▪ Điều tra thu thập thông tin - Phương pháp bảo quản nấm rơm sử dụng công nghệ cao: ▪ Phương pháp chiếu xạ ▪ Phương pháp bảo quản sử dụng hệ thống điện từ trong kho mát ▪ Phương pháp bảo quản bằng khí nitơ - Phương pháp đánh giá cảm quan chất lượng nấm: ▪ Xác định màu sắc bề mặt nấm theo theo hệ màu RGB trên phần mềm Adobe Photoshop CS 8. ▪ Đánh giá cảm quan mùi và nhớt bề mặt nấm 4 - Phương pháp đánh giá định lượng chất lượng nấm: ▪ Đo đường kính và chiều dài quả thể ▪ Cân kiểm tra khối lượng ▪ Xác định thể tích bằng cách nhấn chìm trong dung tích nước định sẵn ▪ Sử dụng máy đo lực Sauter FH50 (Đức) gắn kèm hệ thống giá đỡ vận hành tự động Sauter TVO 2000N500S (Philippines) kiểm tra độ giòn dai của nấm ▪ Sấy kiệt và cân để kiểm tra hàm lượng nước 1. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bảo quản sản phẩm nấm sau thu hoạch.
Kết quả của nghiên cứu có thể áp dụng vào thực tiễn để xây dựng các mô hình bảo quản nấm sau thu hoạch phù hợp với tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm hiện nay. CƠ SỞ T퐃ऀNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. KHÁI QUÁT VỀ NẤM RƠM Nấm rơm có tên khoa học là Volvariella volvacea (Bull.) Sing, thuộc họ Pluteaceae, bộ Agaricales, lớp Agaricomycetes, ngành Basidiomycota, giới Fungi (Kirk và cs. Nguồn gốc của nấm rơm là từ những vùng mưa nhiều ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Đây là loài nấm có sự phân bố rộng rãi trên thế giới, từ Đông Nam Á, Trung Quốc đến Nhật Bản, Madagasca, Bờ Biển Ngà, Cameroon và Mỹ (Mortimer và cs., 2014; Kirk và cs. Nấm rơm thường mọc đơn lẻ hoặc mọc thành cụm trên hầu hết các phế thải của ngành nông nghiệp giàu chất cellulose như: rơm rạ, bông gòn, bã mía, lá chuối khô, compost, mùn cưa đã hoai mục… (Trần Văn Mão, 2011; Lê Duy Thắng và Trần Văn Minh, 2005). Nấm rơm được sử dụng phổ biến trong ẩm thực châu Á vì là một trong những loài nấm ăn ngon và giàu dinh dưỡng. Nấm rơm có hàm lượng protein cao, chứa 2,66 - 5,05% protein (trọng lượng tươi) với 19 loại acid amin; các acid amin không thay thế chiếm đến 38,2% trong tổng lượng acid amin ở nấm rơm.
Tỷ lệ này cao hơn so với thịt lợn, thịt bò, sữa bò, trứng gà. Hàm lượng chất béo trong nấm rơm khoảng 3% (trọng lượng khô), trong đó chất béo chưa bão hòa chiếm 58,8%, chủ yếu là tiền vitamin D2 (ergocalciferol) và γ -ergosterol. Các vitamin trong nấm rơm khá phong phú, trong đó có các loại vitamin như: vitamin B1, B2, acid nicotinic, vitamin C. Lượng chất khoáng chiếm khoảng 3,8% trọng lượng nấm khô, trong đó kali chiếm khoảng 45% (Nguyễn Lân Dũng, 2002; Mortimer và cs., 2014; Kirk và cs.
Nấm rơm là loại nấm có chu kỳ sinh trưởng và phát triển nhanh, từ lúc trồng đến khi thu hoạch chỉ mất khoảng 10 - 12 ngày (Nguyễn Hữu Đống và cs. Quá trình phát triển của nấm rơm bao gồm: hình đinh ghim (pinhead), hình nút nhỏ (tiny button), hình nút (button), hình trứng (egg), hình chuông (elogation) và dạng trưởng thành (mature). Khi trưởng thành, nấm sẽ phá vỡ bao gốc và có dạng dù mũ xòe rộng, màu nâu, nâu đen hoặc màu xám, có kích thước từ 5 - 15 cm. Mặt trên mũ nấm có lớp lông mịn và mặt dưới có từ 280 đến 380 phiến xếp sát vào nhau như nan quạt, bắt đầu từ trung tâm (cuống nấm) ra tới bìa mép.
Phiến nấm lúc non thì có màu trắng, khi tai nấm trưởng thành thì phiến chuyển sang màu hồng, đó là màu của đảm bào tử. Mỗi phiến 6 nấm chứa khoảng 2. Thịt nấm màu trắng, cuống nấm nhẵn màu trắng, gốc nấm phình dạng củ chứa chất thịt dài 3 đến 15 cm với đường kính 0,5 đến 1,5 cm và gốc có một cái bao là vết tích của bao gốc (Nguyễn Lân Hùng và Lê Duy Thắng, 2005). C愃Āc giai đoạn ph愃Āt triển của nấm rơm Nấm rơm là nấm hoại sinh.
Dinh dưỡng cần thiết cho chúng là nguồn carbon, nitơ, khoáng (P, K, Mg, Ca, Fe, Cu, Zn.) và vitamin (B1, Biotin, B3, B5. Tơ nấm phát triển trên cơ chất có tỉ lệ C/N = 30 - 150 và tối ưu ở tỉ lệ C/N = 75 - 80 (Chang và Miles, 2004). Một số nghiên cứu khác cho thấy tỉ lệ C/N = 50 là tỉ lệ phù hợp cho nấm rơm tăng trưởng tơ nấm và phát triển quả thể (Lê Duy Thắng và Trần Văn Minh, 2005). Nấm rơm yêu cầu môi trường nhiệt độ cao, 20 - 40⁰C cho sinh trưởng sợi nấm và 32 - 38⁰C cho hình thành quả thể.
Trong quá trình sợi nấm sinh trưởng, yêu cầu độ ẩm dinh dưỡng là 70% và độ ẩm không khí là 80%.