CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về sự phát triển của Phẫu thuật Nong lỗ thông xoang bằng bóng,[33],[53],[68]: Trong những năm 1990s, Ứng dụng từ những thành tựu của nong bằng bóng của các chuyên khoa Tim mạch, Mạch máu, Tiết niệu và Nội soi Tiêu hóa. Một số tác giả đã nghiên cứu và ứng dụng bộ nong có bóng trong nong dẫn lưu đường dẫn lưu xoang. Tháng 5/2005, bộ nong xoang có bóng tên: the Relieva Sinus Balloon Catheter của công ty ExploraMed II, Inc ( tiền thân của công ty Acclarent) đã được công nhận bộ dụng cụ dùng để nong dãn lỗ hay ống thông xoang trong chẩn đoán cũng như trong điều trị. Tháng 8/2006, Bộ nong xoang có bóng “the Relieva Sinus Catheter and the Relieva Sinus Guidewire®” của Acclarent, Inc.
được FDA công nhận bộ dụng cụ dùng để dẫn lưu, nong lỗ thông/ống thông xoang trong chẩn đoán cũng như điều trị. Năm 2006, Bolger và cộng sự[26],[27]: nghiên cứu tính khả thi và an toàn của nong lỗ thông xoang trên xác và kết luận là dễ thực hiện và an toàn, cũng như không biến chứng. Năm 2007, Hội Mũi học Hoa Kỳ (American Rhinologic Society: ARS): đồng ý việc sử dụng kỹ thuật nong lỗ thông xoang bằng bóng qua nội soi là an toàn và được chấp nhận, đồng thời cũng khẳng định đây chỉ là bộ dụng cụ; chưa xem đây là phẫu thuật thường qui; có thể thực hiện riêng lẻ hay kết hợp với phẫu thuật xoang nội soi. Trong khi, Hội Tai mũi họng và phẫu thuật đầu cổ (American Academy of Otolaryngology - Head and Neck Surgery: AAO-HNS ): đã tuyên bố có chú ý đến tính an toàn của nong lỗ thông xoang bằng bóng trên các trường hợp chọn lọc; và sẽ theo dõi thêm các nghiên cứu về tính hữu dụng, hiệu quả và cần thời gian theo dõi dài hơn.
Tháng 4/2008, Bộ nong “The Entellus Medical RS-Series System” của công ty Entellus Medical, Inc được FDA công nhận là bộ dụng cụ điều trị nong lỗ thông xoang hàm và phễu sàng ở người lớn qua xoang hàm tại hố nanh. Đến tháng 6/2008. 7 bộ nong này được lấy tên thương mại FinESS (Functional infundibular Endoscopic Sinus System)[35],[38]. Năm 2010, AAO-HNS: đã xem nong lỗ thông xoang bằng bóng như một lựa chọn điều trị trên nhóm bệnh nhân chọc lọc, có thể thực hiện riêng hay kết hợp với phẫu thuật nội soi khác.
Năm 2012, EPOS (European Position Paper on Rhinosinusitis and nasal polyps)[40] vẫn ủng hộ FESS nhưng vẫn có những giới hạn trong một số nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, và có quan tâm đến Nong lỗ thông xoang bằng bóng như một phẫu thuật an toàn dựa trên các nghiên cứu loạt ca. Đối với, Viện quốc gia về sức khỏe và lâm sàng Anh quốc (NICE: National Institute for Heathl and Clinical Excellence): Có bằng chứng cho hiệu quả và an toàn của nong lỗ thông xoang bằng bóng[53],[35]. Năm 2016, AAO-HNS[35],[68]: Nong xoang bằng bóng được xem như một chọn điều trị trong nhóm bệnh nhân chọn lọc là Viêm mũi xoang mạn không polyp mũi và Viêm mũi xoang tái phát; với chẩn đoán lâm sàng dựa vào: triệu chứng lâm sàng, nội soi mũi xoang, trên CT scan mũi xoang có dày niêm mạc xoang (≥ 2mm) hoặc bít tắc lỗ thông xoang; và chỉ thực hiện trên xoang bướm, xoang hàm, xoang trán. Có thể thực hiện một mình hay kết hợp với dụng cụ khác (Microdebrider, Forcep).
Năm 2018, AAO-HNS[68]: Nong xoang bằng bóng được xem một thủ thuật bổ sung cho FESS trong viêm mũi xoang mạn không polyp; nong lỗ thông xoang bằng bóng có vai trò điều trị trong viêm mũi xoang cấp tái phát; trên nhóm bệnh nhân chọn lọc và nhận thấy rằng có cải thiện chất lượng cuộc sống trên viêm mũi xoang mạn không polyp được nong lỗ thông xoang bằng bóng. Và nong lỗ thông xoang trán hay ngách trán bằng bóng thì có hiệu quả hơn. Các nguyên lý trong nong bóng lỗ/ống thông hoặc đường dẫn lưu các xoang; phù hợp nguyên lý mô học, hoạt động chuyển hóa và sinh lý bảo vệ xoang. Nong lỗ thông xoang bằng bóng (Ballom sinus ostial dilation) cũng được gọi chỉnh hình lỗ thông xoang bằng bóng nong (Ballom dilation sinuplasty) hoặc mở lỗ.
8 thông xoang bằng catheter có bóng (Ballom catheter sinusotomy): là sự làm dãn lỗ thông xoang dưới áp lực của bóng nong lên mô và gây vi nứt gãy xương làm rộng lỗ thông xoang. Phẫu thuật này được xem như một phương thức lựa chọn hay là phương thức bổ sung kết hợp Phẫu thuật xoang nội soi chức năng (FESS) truyền thống[68]. Hiện tại, Nong xoang bằng bóng qua đường mũi hay qua xoang hàm tại hố nanh. Thực hiện qua đường mũi (dùng nong lỗ thông xoang hàm, xoang trán, xoang bướm) là Bóng nong được đưa vào bằng đường mũi, có ống dẫn đến vị trí lỗ thông xoang cần nong dưới quan sát của nội soi; được định vị (dây dẫn sáng) đúng xoang cần nong và tiến hành nong lỗ thông xoang.
Trường hợp, xuyên xoang hàm tại hố nanh và nong rộng lỗ thông xoang hàm và phễu sàng dưới quan sát bằng nội soi (chỉ thực trên xoang hàm)[36],[68]. Năm 2018, Theo Hội Tai Mũi Họng và Phẫu thuật đầu cổ của Mỹ (AAO- HNS) thì Nong xoang bằng bóng được công nhận thực hiện khi có các điều kiện sau([35],[53],68]: Viêm mũi xoang mạn: - Viêm mũi xoang mạn ( kéo dài ≥ 12 tuần) và khi có các dấu hiệu sau: + Có tình trạng viêm mạn tính trên xoang có chỉ định nong xoang; được xác định trên CT scan và có một trong các dấu hiệu sau: Dày niêm mạc xoang (≥ 2mm); có hiện tượng tái tạo xương hay dày xương; có sự bít tắc phức hợp lỗ thông xoang. + Nong xoang bằng bóng chỉ thực hiện trên xoang trán, xoang hàm hoặc xoang bướm. + Nong xoang bằng bóng có thể được thực hiện riêng hay thực hiện kết hợp với phuật thuật xoang nội soi chức năng (FESS).
+ Nong xoang bằng bóng chỉ thực hiện khi triệu chứng viêm xoang kéo dài mặc dù đã điều trị nội khoa tích cực (rửa mũi xoang, corticoid tại chỗ, kháng sinh.) Viêm mũi xoang tái phát: (khi có ≥ 4 đợt cấp trong 1 năm) mỗi đợt kéo dài 4 tuần, khi có các dấu hiệu sau: + Triệu chứng mũi xoang: nghẹt mũi, chảy mũi, đau nhức vùng mặt;. 9 + Trên CT scan mũi xoang có hiện tượng bít tắc lỗ thông xoang và/hoặc dày niêm mạc (≥ 2mm) hoặc có mực nước hơi trong xoang. Không thực hiện nong xoang bằng bóng trong polyp mũi hoặc có khối u trong hốc mũi. Hiện tại, Hệ thống nong lỗ thông xoang bằng bóng được sản xuất và cung cấp tùy thuộc vào cách thức tiếp cận lỗ thông/ống thông xoang mà có các bộ dụng cụ khác nhau.
Từ 2006, FDA (Food and Drug Administration) đã lần đầu tiên công nhận “The Relieva Sinus Cathere®”, “The Relieva Sinus Guidance®” của Acclarent Inc[68] là một bộ dụng cụ trong chẩn đoán và điều trị viêm mũi xoang mạn; là phương tiện để nong dãn rộng lỗ thông xoang và làm thông thoáng xoang (sinus space); được xếp như là dụng cụ cho Tai mũi họng hay là dụng cụ phẫu thuật thường qui. Ngày nay, ngày càng nhiều bộ dụng cụ nong xoang bằng bóng được sản xuất và đăng ký với những cải tiến phục vụ từng mục đích điều trị và thuận tiện hơn.1 Bộ xoang hàm Relieva qua đường mũi có ống dẫn[26],[27] Trong điều trị viêm xoang hàm mạn bằng nong Lỗ thông/ống thông xoang hàm thì tùy vào đường tiếp cận mà có các bộ dụng cụ khác nhau. Nếu đường tiếp cận lỗ thông/ống thông xoang hàm qua đường mũi thì có những bộ nong của các công ty sản xuất: bộ bóng nong xoang Acclarent Relieva™; bộ bóng nong xoang Balloon Sinuplasty™; bộ bóng nong đa xoang XprESS™[53],[68]).2 Minh họa Nong lỗ thông xoang hàm qua đường mũi có ống dẫn (A: Đặt ống dẫn và dây dẫn vào xoang hàm; B: Đặt bóng nong xoang hàm bằng bộ nong xoang Relieva) Nếu đường tiếp cận qua xoang hàm tại hố nanh để nong lỗ thông/ống thông xoang hàm và phễu sàng ở người lớn thì dùng bộ Functional Infundibular Endoscopic Sinus System (FinESS™) Sinus Treatment[36],[38],[54],[68].3 Bộ nôi soi FinESS nong lỗ thông xoang hàm[38] 1.2 Giải Phẫu xoang hàm: 1.1 Sơ lược sự phát triển & Giải phẫu xoang hàm:[7],[32],[44]: Khoảng tháng thứ 3 của thai kỳ, xuất hiện một mầm ở thành bên phần sàng của nang mũi, phát triển từ tế bào hàm (maxillary cell) lớn dần thành xoang hàm; mõm móc cũng phát triển từ mầm sàng, giữa mõm móc và vách mũi xoang hình thành 1 khe; gọi là phễu sàng. Xoang hàm lớn lên chậm trong suốt thời kỳ bào thai, kích thước của xoang lúc sanh ra khoảng 6-8cm3.
Sau sanh từ 4-5 tháng, xoang hàm có thể thấy trên X quang, giai đoạn phát triển nhanh của xoang hàm có 2 giai đoạn là từ 1- 3 tuổi và từ 7-12 tuổi, xoang hàm phát triển chậm ở thời kỳ từ 3-7 tuổi, xoang. 11 hàm đạt kích thước của người trưởng thành ở giai đoạn tuổi vị thành niên. Sự khí hóa của xoang hàm có thể kéo dài đến thành bên của hốc mắt. Sau 12 tuổi sự phát triển của xoang hàm có liên quan đến mõm răng hàm trên và sự mọc của các răng hàm.
Ở tuổi trưởng thành thì sàn của xoang hàm thường thấp hơn sàn của hốc mũi là 4-5mm. Lúc sanh 1 tuổi 6 tuổi Phát triển 12 tuổi Trưởng thành Sự khí hóa Hình 1.4 Sự phát triển xoang hàm theo lứa tuổi ( Nguồn Internet ) Xoang hàm là một xoang lớn nhất trong cơ thể, có hình chóp, có thể tích khoảng 15ml ở tuổi trưởng thành, chiều dài trung bình trước sau 34 mm, đường kính ngang là 25 mm, chiều cao là 33 mm, khi nhìn từ trên xuống theo mặt phẳng ngang thì xoang hàm có hình tam giác, có đáy là thành bên của hốc mũi, tạo nên một phần của vách mũi xoang, đỉnh của nó hướng về cung xương gò má, thành trước của xoang hàm là mặt trước (bề mặt của mặt) của xương hàm trên. Trần của xoang hàm là sàn của hốc mắt, là phần hốc mắt của xương hàm trên, rộng gấp đôi sàn xoang hàm, giới hạn của sàn xoang hàm: răng hàm thứ nhất ở phía trước, ở phía sau là mõm răng hàm thứ 3. 12 Đáy Khe dưới hốc mắt Trần Vách mũi Sàn ổ mắt xoang Thành sau xoang hàm Mặt dưới thái dương x.hàm Lỗ thông xoang Lỗ ĐM huyệt răng sau trên hàm Đỉnh Nằm cung gò má Mặt trước Lỗ dưới ổ mắt Mặt của bề mặt x hàm trên sàn Mõm huyệt răng x.hàm trên Hình 1.