Chương 1 TỔNG QUAN Thể thuỷ tinh là cấu trúc giúp cho mắt định thị vào các vật ở các khoảng cách khác nhau, bình thường vốn rất trong suốt. Đục thể thuỷ tinh (TTT) là tình trạng thể thuỷ tinh của mắt bị mờ. Theo tiếng La tinh, từ “cataract” có nghĩa là một người nhìn qua hơi mờ của thác nước. Bệnh đục TTT chiếm 48% tỷ lệ mù loà trên toàn thế giới, được ước tính khoảng 20 triệu người, theo Tổ chức Y tế thế giới.
Tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam, dịch vụ mổ không đầy đủ và bệnh đục TTT vẫn bị coi là nguyên nhân gây mù loà hàng đầu. Khi tuổi thọ của dân chúng cao, số lượng người bị đục TTT sẽ tăng lên. Tuổi thọ cao là yếu tố làm cho tỷ lệ mắc đục TTT cao. Tại các nước đang phát triển, rối loạn thị giác do đục TTT còn phổ biến do bệnh nhân phải chờ đợi mổ lâu, các vấn đề kinh tế-xã hội và dân trí thấp gây ảnh hưởng đến can thiệp phẫu thuật.
Bên cạnh tuổi tác cao, có nhiều nguyên nhân tạo điều kiện cho bệnh đục TTT phát triển như hút thuốc lá, tiếp xúc nhiều với ánh nắng và chế độ dinh dưỡng kém. Bệnh đục TTT tuổi già thường xuất hiện sau 40-50 tuổi với thị lực bị ảnh hưởng nặng sau 60 tuổi. Đặc điểm địa lý của nơi cư trú có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh đục thể thuỷ tinh. Đục thể thuỷ tinh được phân làm 5 mức độ như sau: - Độ I: Nhân mềm xám nhạt hay đục dưới vỏ sau -Độ II: Nhân đục xám vàng, nhân hơi cứng -Độ III: Nhân cứng trung bình vàng nhạt -Độ IV: Nhân vàng hổ phách cứng -Độ V: Nhân rất cứng, nhân màu nâu đen 3 Điều trị đục thuỷ tinh thể: Phẫu thuật đục TTT là loại phẫu thuật phổ biến với độ an toàn và hiệu quả nhất.
Cách đây khoảng 4000 năm một phẫu thuật viên quyết định lấy TTT đục trắng và đã thực hiện ca mổ đầu tiên. Tuy nhiên người ta không biết tên tác giả. Từ đó phẫu thuật phát triển nhưng chậm chạp. Đó chính là phẫu thuật làm rơi TTT xuống buồng dịch kính.
Kỹ thuật này được áp dụng đén tận sau năm 1000. Người ta đã đưa một dụng cụ nhọn vào trong măt, không gây mê, không vô trùng, di động TTT và đẩy TTT vào trong buồng dịch kính[15]. Hiện nay có hai phương pháp phẫu thuật được áp dụng phổ biến: Phẫu thuật phaco và phẫu thuật lấy thể thuỷ tinh đục qua đường rạch nhỏ hay phẫu thuật đường rạch nhỏ. Phẫu thuật phaco(Phacoemulsification).
Phẫu thuật tán nhuyễn thuỷ tinh thể bắt đầu được áp dụng tại Việt Nam từ năm 1995, đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về phẫu thuật này: Thái Thành Nam [2], Tôn Thị Kim Thanh [4] Vũ Thị Thái [3], Trần Thị Phương Thu [5], Nguyễn Thu Hương [1], và Vũ Anh Tuấn [6]. Các tác giả đã nghiên cứu về phẫu thuật tán nhuyễn TTT trên một vài hình thái đục TTT: đục TTT già, đục TTT chín trắng, đục thuỷ tinh thể nhân cứng và lấy TTT còn trong để điều trị cận thị cao bằng phẫu thuật tán nhuyễn TTT. Tất cả các nghiên cứu đều cho thấy hồi phục thị lực cao sau phẫu thuật: thị lực sau mổ 3 tháng đã chỉnh kính ≥ 5/10 ở 91,67% (Nguyễn Thu Hương [1]) và ≥ 7/10 ở 84,4% trên những mắt đục TTT chín trắng (Tôn Thị Kim Thanh [4]). Thể thuỷ tinh đục có thể được lấy qua một đường rạch nhỏ khoảng 2.75 mm ở giác mạc trong phẫu thuật tán nhuyễn TTT bằng siêu âm hay qua một đường rạch giác mạc rộng hơn như trong phẫu thuật lấy TTT ngoài bao.
Phẫu thuật tán nhuyễn TTT bằng siêu âm không cần phải khâu. Rạch giác mạc rộng có thể gây biến dạng giác mạc và gây loạn thị về sau. Nhưng phẫu thuật dùng 4 siêu âm cần phải có trang thiết bị hiện đại và đắt tiền để làm nhuyễn TTT đục. Phẫu thuật lấy TTT ngoài bao cần ít dụng cụ hơn và giá thành phẫu thuật giảm hơn.
Trong cả hai phương pháp, TTT nhân tạo được đặt vào vị trí TTT tự nhiên đã bị lấy bỏ. Phẫu thuật phaco gây ra biến chứng: + Bỏng vết mổ: 3% (Thái Thành Nam); 4,44% (Tôn Thị Kim Thanh); 1,5% (Trần Thị Phương Thu) + Chấn thương mống mắt: 2% (Thái Thành Nam); 4,44% (Tôn Thị Kim Thanh). + Thủng bao sau thoát và không thoát dịch kính: 4% (Trần Thị Phương Thu), 4,44% (Tôn Thị Kim Thanh) và 3,13% (Nguyễn thu Hương). + Xé bao đường tròn liên tục không thành công: 11,1% trên những mắt đục TTT chín trắng (Tôn Thị Kim Thanh); 8,33% (Nguyễn thu Hương).
Phẫu thuật đường rạch nhỏ (Small Manual Incision Cataract Surgery-SMICS). Phẫu thuật đường rạch nhỏ ra đời sau phẫu thuật phaco và rất phổ biến ở các nước đang phát triển như Ấn Độ, Nepal [15]. Các nghiên cứu cho thấy giá thành hạ mà không làm ảnh huởng đến chất lượng của dịch vụ chăm sóc bệnh nhân đục thể thuỷ tinh. Đây là phẫu thuật lấy thể thuỷ tinh qua đường hầm củng mạc bao gồm các bước cơ bản như sau (Hình 1): Bưới 1: Tạo đường hầm củng mạc.
Đường hầm củng mạc có hình vuông, rộng 5,5mm, đường rạch củng mạc cách rìa 2,5mm và đi sâu vào giác mạc 2mm. Bước 2: Bơm dịch nhày và xé bao trước thể thuỷ tinh. Thuốc nhuộm bao xanh trypan được sử dụng khi đục TTT trắng hay quá chín. Bước 3: Tách nước và xoay nhân ra ngoài tiền phòng.
Có thể sử dụng dịch nhày bơm ra sau để đưa nhân cứng ra ngoài tiền phòng. Bước 4: Lấy nhân cứng trung tâm. Có 4 cách hay được áp dụng hiện nay. 5 -Dùng móc Kinskey -Dùng tấm trượt silicone (Blumenthal) -Dùng dịch nhày -Dùng thòng lọng cắt nhân và dùng panh gắp nhân.
Bước 5: Rửa hút sạch chất nhân Bước 6: Bơm dịch nhày và đặt TTT nhân tạo Bước 7: Rửa hút dịch nhày và kiểm tra lại vết mổ A B C D E F Hình 1. Phẫu thuật đường rạch nhỏ (theo Manual small incision cataract surgery-Ravi Thomas và cs [17]) A. Chọc tiền phòng. Xé bao trước.
Tách kết mạc. Đo lại độ rộng đường hầm. Tạo đường ra của nhân 6 G H I J K L Hình 1. Phẫu thuật đường rạch nhỏ G.
Tạo đường hầm củng mạc. Đặt kim nước tiền phòng. Mở vào tiền phòng. Xoay và đưa nhân cứng ra ngoài tiền phòng.
Đặt tấm silicone xuống dưới nhân cứng trung tâm 7 M N O P Q Hình 1. Phẫu thuật đường rạch nhỏ M. Lấy nhân cứng. Đặt và xoay TTT nhân tạo.
Kiểm tra đường rạch Đục TTT là vấn đề được lưu tâm trong các kế hoạch quốc gia phòng chống mù loà và tỷ lệ mổ đục TTT đã tăng cao ở nhiều nước trên thế giới. Tại các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ được mổ đục TTT thay đổi trong khoảng 2000-2700 phẫu thuật/ 1 triệu dân/ năm. Các trở ngại cho phẫu thuật đục TTT tại các cộng đồng nghèo gồm có nhận thức của dân, giá thành phẫu thuật cao và hạn chế tiếp cận. Các kỹ thuật mổ giá thành tiết kiệm đã được đề ra và thử nghiệm cùng với việc đưa vào loại TTT nhân tạo giá thành thấp.
Tuy nhiên, 8 tại các vùng nông thôn nghèo, dịch vụ chăm sóc mắt bị thiếu thốn và ngay cả khi có thì chất lượng cũng không được đảm bảo. Các kết quả thị lực sau mổ kém cũng là trở ngại quan trọng làm cho bệnh nhân tiếp cận mổ khó khăn. Các báo cáo cho thấy có ba lý do làm cho kết quả mổ đục TTT không được đảm bảo. 1/ Có các bệnh mắt khác đi kèm: Lựa chọn bệnh nhân kém sẽ lấy cả các bệnh nhân bị mắc bệnh mắt khác như bệnh glôcôm, bệnh võng mạc tuổi già và tiểu đường.
2/ Có tật khúc xạ đi kèm: Tật khúc xạ không được chỉnh kính làm cho kết quả không tốt. 3/ Kỹ năng của phẫu thuật viên khi mổ. Phẫu thuật không chất lượng dễ gây biến chứng và ảnh hưởng đến kết quả. Mặc dù phẫu thuật mổ đục TTT là một can thiệp mang lại nhiều hứa hẹn, biến chứng hoàn toàn vẫn có thể xảy ra.
Điều này có thể gặp khi những yêu cầu cơ bản không được đáp ứng như: khám sàng lọc bệnh nhân không cẩn thận, chất lượng mổ, hay dụng cụ kém. Các biến chứng thảm khốc nhất bao gồm viêm nội nhãn hay nhiễm trùng nội nhãn có thể gây mất nhãn cầu. Sót chất TTT gây ra viêm mãn tính và tăng nhãn áp. Kỹ thuật mổ không phù hợp gây ra và loạn thị và đục bao sau thứ phát.
Chương trình Thị giác 2020 nhằm loại bỏ nguyên nhân gây mù loà do đục TTT. Điều đó bao gồm việc cung cấp các dịch vụ với giá cả phải chăng và tỷ lệ mổ thành công cao về thị lực và chất lượng cuộc sống. Các chương trình đã và sẽ tiến hành nhằm làm giảm lượng bệnh nhân đục TTT còn tồn đọng ở các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam thông qua bốn hoạt động chính. Đào tạo các bác sỹ mổ mắt ở cả nông thôn và thành thị.
Củng cố vật chất các cơ sở chăm sóc mắt hiện có. Giảng dạy các kỹ thuật mổ đục TTT thích hợp như phẫu thuật lấy TTT đường rạch nhỏ. Hỗ trợ việc nghiên cứu để thấy rõ ảnh hưởng của kinh tế đất nước lên tỷ lệ mù do đục TTT gây ra. Hà Giang là một tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam.
Dân số của toàn tỉnh là 724 000 người bao gồm 22 dân tộc. Hà Giang có 195 xã phường nằm trong 10 huyện thị trong đó có 8 huyện miền núi biên giới. Tổng số hộ gia đình là 140 000 với số người > 50 tuổi là 150 000 người. Bệnh đục TTT đã được giải quyết tại địa phương từ năm 2008 với các con số như sau: Năm 2008 mổ 600 trường hợp; Năm 2009 mổ 850 trường hợp; Và 6 tháng đầu năm 2010 mổ 450 trường hợp (theo báo cáo của bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang).
Cùng với các địa phương khác, Hà Giang đang thực hiện dự án “Tăng cường năng lực của hệ thống y tế nông thôn”. Dự án nhằm làm giảm tỷ lệ mù do các bệnh mắt có thể phòng tránh được và mù loà ở trẻ nhỏ và người lớn ở những vùng nông thôn có khó khăn thông qua cung cấp các dịch vụ chăm sóc mắt giá cả hợp lý với điều kiện kinh tế xã hội ở địa phương, dễ tiếp cận và lâu dài. Trong số các ưu tiên chăm sóc mắt như tật khúc xạ, bệnh quặm mi và bệnh mắt trẻ em, vấn đề cải thiện chất lượng mổ đục TTT cũng được ưu tiên.