MỞ ĐẦU Theo Phụ lục C-Công ước Stockhom (2001), Hexaclobenzen (HCB) là hợp chất thuộc nhóm hợp chất hữu cơ khó phân hủy phát sinh không chủ định (U-POPs), được tạo ra và phát thải không có chủ định từ các quá trình nhiệt liên quan đến chất hữu cơ và clo, do đốt cháy không hoàn toàn hay do các phản ứng hóa học. HCB có độc tính cao, ở nồng độ vài μg/g gây độc hại cho con người, sinh vật và môi trường [8,10], HCB bền vững trong môi trường, phân tán rộng [8,10] và có khả năng tích tụ sinh học, phá huỷ hệ thần kinh, gan và thận [6]. Một số nguồn công nghiệp có khả năng phát thải ra môi trường tương đối cao HCB như: lò thiêu hủy chất thải (chất thải đô thị, chất thải nguy hại, y tế hoặc bùn cống); các lò nung xi-măng kết hợp đốt chất thải nguy hại; sản xuất bột giấy có sử dụng clo phân tử hoặc sử dụng các hóa chất phát sinh clo phân tử trong tẩy trắng; các quá trình nhiệt trong công nghiệp luyện kim: tinh luyện đồng, các xưởng nung quặng trong công nghiệp thép, tinh luyện nhôm, tinh luyện kẽm. Một số quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Mexico, Nhật Bản đã nghiên cứu với quy mô sâu và rộng về sự phát thải các hợp chất U-POPs từ các quá trình đốt cháy của các hoạt động công nghiệp có sinh ra dioxin, furan, dioxin-like PCBs,.Tuy nhiên, các nghiên cứu về sự phát thải HCB còn rất ít và rất hạn chế.
Các nghiên cứu này chỉ tập trung vào một số ngành nghề như luyện kim và đốt các loại rác thải sinh hoạt. Tại Việt Nam, hoạt động sản xuất công nghiệp không ngừng được đẩy mạnh trong nhiều năm qua, đặc biệt là một số loại hình công nghiệp có khả năng phát thải HCB như luyện kim, sản xuất giấy, sản xuất xi măng, đốt rác thải,.Đối với một số hợp chất dạng này hiện vẫn chưa được đánh giá mức độ rủi ro, mức độ ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người [1]. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài luận văn “Nghiên cứu khả năng phát thải của Hexaclobenzen ( HCB) và đánh giá mức độ rủi ro từ sự phát thải trong quá 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình đốt cháy của các hoạt động công nghiệp đến môi trƣờng.” được thực hiện. Trong nghiên cứu này, những nội dung chính được thực hiện như sau: - Phân tích, xác định hàm lượng HCB trong mẫu tro thải của một số lò đốt rác và sản xuất công nghiệp.
- Tính toán hệ số phát thải. - Đánh giá sơ bộ ban đầu về mức độ rủi ro từ sự phát thải trong quá trình đốt cháy của các hoạt động công nghiệp đến môi trường làm tiền đề cho đánh giá mức độ rủi ro sau này. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Công ƣớc Stockholm về các hợp chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy Công ước Stockholm về các hợp chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (Persistant Organic Pollutants – POPs, gọi tắt là Công ước Stockholm) là một Hiệp ước môi trường lớn, có tính toàn cầu và đã được các nước ký kết thực hiện nhằm mục đích bảo vệ sức khoẻ con người, đa dạng sinh học và môi trường trước những nguy cơ, rủi ro do các hợp chất POPs gây ra.
Công ước Stockholm được ký ngày 22 tháng 5 năm 2001 tại Stockholm và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 17 tháng 5 năm 2004. Việt Nam phê duyệt Công uớc Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy vào ngày 22 tháng 7 năm 2002, trở thành thành viên thứ 14 của Công uớc. Công ước Stockholm quy định việc ngừng sản xuất, hạn chế sử dụng và tiêu hủy hoàn toàn một số hợp chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy do con người tạo ra, đồng thời thực hiện các biện pháp cần thiết để giảm thiểu liên tục sự phát thải không chủ định của các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy do các hoạt động sản xuất công nghiệp, sinh hoạt hoặc xử lý chất thải sinh ra. Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ là các chất hữu cơ tồn tại bền vững trong môi trường, phát tán rộng, có khả năng tích tụ sinh học và có tính chất độc hại cao.
Các chất POPs có thể gây tác hại nghiêm trọng cho sức khoẻ con người (gây ra các bệnh về sinh sản, thần kinh, miễn dịch, ung thư,.), đa dạng sinh học và môi trường [5,8,10]. Số nhóm chất mà Công ước Stockholm quy định để quản lý gồm hàng trăm đơn chất khác nhau bao gồm các dạng hóa chất bảo vệ thực vật, hóa chất công nghiệp, hóa chất hình thành và phát sinh không chủ định từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cuộc sống. Hexaclobenzen là một trong 12 chất ban đầu được công ước Stockkholm liệt kê vào cả phụ lục A (loại bỏ) và C (vô ý sản xuất ra), sau đó tại hội nghị lần thứ tư (tháng 5 năm 2009). Ngoài ra còn rất nhiều chất khác như: Alpha hexaclocyclohecxan và Beta hexaclocyclohecxan là hai hợp chất đồng thời sinh ra trong khi sản xuất lindan.
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những hợp chất này đều có tính độc cao đối với con người và sinh vật, chậm phân hủy trong tự nhiên, có khả năng tích lũy sinh học thông qua chuỗi thức ăn. Một số yêu cầu chính của Công ước như: cập nhật kế hoạch thực hiện quốc gia, bổ sung khung chính sách pháp luật để đảm bảo quản lý an toàn các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy mới, kiểm kê, quan trắc và báo cáo,. nhằm nâng cao công tác quản lý các hợp chất POPs trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, cơ chế chính sách quản lý các hợp chất POPs mới nói chung và POPs phát sinh không chủ định (U-POPs) nói riêng còn nhiều bất cập.
Một số tính chất của Hexaclobenzen Hình 1. Công thức cấu tạo của HCB Hexaclobenzen (HCB) là một hóa chất công nghiệp polyclobenzen với công thức phân tử C6Cl6, không tan trong nước, nhưng là rất dễ tan trong chất béo, dầu và các dung môi hữu cơ. HCB nguyên chất ở dạng tinh khiết màu trắng, gồm nhiều đồng phân không gian, trong đó có đồng phân gammar có khả năng thăng hoa ở nhiệt độ cao. HCB là chất khá bền vững trong điều kiện thường, bền với tác động của ánh sáng, chất oxy hóa và môi trường axit.
Trong nước HCB liên kết với trầm tích và các chất lơ lửng. Thời gian bán phân hủy của HCB trong nước là rất khó ước tính, khoảng trên 6 năm, nó liên quan đến khả năng hòa tan thấp và áp suất hơi cao. Theo Barber và các cộng sự (2005), áp suất hơi cho phép HCB được tìm thấy gần như độc quyền trong pha khí (70%). Trong không khí, lượng HCB giảm bằng cách phản ứng với các gốc hydroxyl (OH-) 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hay quang phân.
Thời gian bán phân hủy của HCB trong môi trường được trình bày ở bảng 1. Thời gian bán phân hủy của HCB trong môi trường Môi trƣờng Thời gian bán phân hủy (năm) Tài liệu tham khảo >6 Mackay et al (1992) Nước 2,7 - 5,7 Howard et al (1991) Đất 2,7 - 22 Euro Chlor (2002) Không khí 1 Prinn et al (1995) Hexaclobenzen là một trong những chất gây ô nhiễm môi trường dai dẳng nhất, có khả năng tích lũy sinh học trong môi trường, động vật và ở người. HCB được liệt kê vào phụ lục A & C (cần loại bỏ và hình thành không chủ đích) của công ước Stockholm. Hầu như tất cả các sản phẩm thương mại của HCB kết thúc vào cuối năm 1970.
Tuy nhiên, HCB tiếp tục được thải ra môi trường từ nhiều nguồn khác nhau. Điều này có thể xảy ra thông qua việc sử dụng một số loại thuốc trừ sâu clo (nó tồn tại như một tạp chất trong một số loại thuốc trừ sâu cơ clo), tái phát thải từ đất “cũ” chứa HCB do việc sử dụng HCB làm thuốc trừ sâu trước đây, cũng có thể phát sinh trong quá trình cháy không hoàn toàn. Khí thải HCB đến từ các quá trình nhiệt và hóa chất tương tự như Dioxin/Furan, nó bắt nguồn từ việc phát sinh không chủ định trong quá trình công nghiệp liên quan đến việc đốt cháy không hoàn toàn, như quá trình luyện kim, sản xuất xi măng, đốt rác thải sinh hoạt, chất thải nguy hại, sản xuất các hóa chất công nghiệp khác (chủ yếu là các dung môi clo, chất thơm clo). Độc tính của Hexaclobenzen Hexaclobenzen là chất gây độc cho sinh vật và con người.
Cơ quan quốc tế nghiên cứu về ung thư (IARC) và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ phân loại HCB là một chất có thể gây ung thư nhón 2B. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo QCVN08:2008/BTNMT (B1), mức dư lượng tối đa cho phép trong đất là 0,01mg/kg đất khô theo QCVN:04:2008/BTNMT; trong nước mặt là 0,13 ug/l. Con người và dân số nói chung thường không có khả năng được tiếp xúc với một lượng lớn HCB, nhưng họ có khả năng phơi nhiễm qua con đường ăn uống, nhiều nghiên cứu đã phát hiện một lượng nhỏ trong các mẫu thực phẩm cá, thịt. Trẻ nhỏ có thể có nguy cơ phơi nhiễm với HCB khi vui chơi tại các khu vực đất bị ô nhiễm HCB qua da và đường hô hấp, cũng có thể phơi nhiễm qua đường ăn uống khi trẻ gặm đồ chơi bị dính đất chứa HCB.
Ở động vật và con người, HCB tích tụ trong mô giàu lipid, chẳng hạn như mô mỡ, vỏ thượng thận, tủy xương, da và một số mô nội tiết, và có thể truyền cho con qua nhau thai và qua sữa mẹ. Hexaclobenzen chuyển hóa hạn chế thành pentaclophenol, tetraclohydroquinone và pentaclothiophenol như các chất chuyển hóa chủ yếu qua nước tiểu. Hầu hết các dữ liệu về việc phơi nhiễm HCB qua đường hô hấp ở con người đã được trình bày bởi các nghiên cứu của công nhân từ một nhà máy organoclobenzen và các cư dân của một thị trấn Flix, Tây Ban Nha. Tiếp xúc với hexaclobenzen (chủ yếu là không khí) có liên quan với nồng độ HCB cao trong máu và hiệu ứng gan (tăng porphyrin và enzyme của gan), tác động tuyến giáp (giảm nồng độ thyroxin; yếu với suy giáp, bướu cổ, và ung thư tuyến giáp) và làm suy giảm của kỹ năng vận động ở trẻ [4].
Bằng chứng dịch tễ học đã được tìm thấy trong các nghiên cứu của người dân tiếp xúc với HCB bằng miệng ở Đông Nam Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ. Trong những năm 1950, khi người dân ăn bánh mì làm từ ngũ cốc được sử dụng thuốc trừ sâu HCB gây ra một đại dịch trong khu vực này.