Đặt vấn đề Hiện tay cùng với chất lượng cuộc sông đi lên, nhu cầu của con người càng tăng thì nhu cầu cây xanh càng nhiều, góp phần cải thiện khí hậu, giải quyết vấn đề kỹ thuật môi sinh. Cây Phú Quý là loại cây tán lá trang trí nội thất do tán lá hấp dẫn, dễ phát triển và khả năng chịu được độ âm tương đối thấp và điều kiện ánh sáng yếu (Henny, 2000; Chen, 2005) nên được ưa chuộng hiện nay. Tuy nhiên, việc sản xuất Aglaonema thương mại hầu như đều nhân giống truyền thông, nhưng nhân giống truyền thống bằng cách giâm cành có thể truyền mầm bệnh từ cây gốc sang cành giâm (DM Yeh và cộng tác viên, 2007). Nguyên nhân có thé bởi vi một số giống Aglaonema có thé chứa mầm bệnh nội sinh trong cây (Chase, 1997).
Trong những thí nghiệm tiếp theo đã có một số nghiên cứu nhân giống nuôi cấy mô nhưng không thành công vì khó khăn trong việc thiết lập và duy trì môi trường nuôi cấy vô trùng (Chen và Yeh, 2007) và thiếu thông tin kỹ thuật chỉ tiết về quy trình nhân giống in vitro (Mariani và cộng tác viên, 2011). Các nghiên cứu trước đây cho thay số chi in vitro trung bình phụ thuộc vào giống và quy trình (Fang và cộng tác viên, 2013; Mariani và cộng tác viên, 2011). Do đó mục đích của nghiên cứu này là khảo sát chất điều hòa sinh trưởng với các nồng độ khác nhau ảnh hưởng đến quá trình phát triển chồi cũng như nhân nhanh cụm chồi in vitro. Ngoài ra, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương pháp nhân chéi bang chồi nách đạt tỉ lệ nhân chồi thấp (Zhang và cộng tác viên, 2004; Chen va Yeh, 2007) nên mục đích của nghiên cứu này là khảo sát sự phát sinh cụm chồi và nhân nhanh cụm chdi từ mẫu đốt thân — cảm ứng phát sinh phôi từ tế bào lớp mỏng của cây Phú Quý nhằm cải tiến, nâng cao quá trình tạo chồi bằng phương pháp nuôi cấy tế bào lớp mỏng.
Mục tiêu đề tài Cytokinin ảnh hưởng rõ rệt và đặc trưng nhất lên sự phân hóa cơ quan thực vật và đặc biệt là phân hóa chôi, từ lâu người ta đã chứng minh rang sự cân bang tỉ lệ auxin và cytokinin có ý nghĩa lên quá trình phát sinh hình thái của cây nuôi cấy mô in vitro cũng như cây nguyên ven (Trần Văn Minh, 1999). Nên mục tiêu của đề tài này là xác định được nồng độ BA phù hợp đến quá trình phát triển chồi từ đốt thân và nhân nhanh cụm chỗồi cũng như nồng độ 2,4-D phù hợp đến quá trình phát sinh phôi từ tế bào lớp mỏng. Nội dung thực hiện Đề tài được thực hiện với 3 nội dung: Nội dung 1: Ảnh hưởng của BA đến quá trình phát triển chồi từ đốt thân. Nội dung 2: Ảnh hưởng của 2,4-D đến quá trình cảm ứng, phát sinh phôi từ tế bào lớp mỏng.
Nội dung 3: Ảnh hưởng của BA đến quá trình nhân nhanh cụm chồi. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Cay Phu Quy 2. Nguồn gốc va phân bố Cây Phú Quý có tên khoa học (Aglaonema sp.
Chi Aglaonema thuộc họ Ray (Araceae) và gồm hơn 20 loài, sống ở vùng Đông Nam A, Bắc An Độ, Nam Trung Quốc, Inđônexia va Đông Malayxia (Hay, 1998). Aglaonema được trông nhiêu ở Trung Quoc và nhiêu nước Đông Nam A khác. Vi vậy, tên thông thường sử dụng phổ biến được gọi là “Chinese evergreen” (Chen và cộng tác viên, 2003). Bên cạnh đó, Hình 2.
Cây Phú Quý. Aglaonema còn là một trong số những cây cảnh phổ biến dùng trong trang trí trên thế giới, do màu sắc; hoa văn khác nhau trên những phiến lá. Phần lớn giống lai tập trung ở Thái Lan và InđônêsIa. Đặc điểm cây Phú Quý Cây phú quý thuộc loài cây thân thảo, cây mọc thành bụi, cao khoảng 25 cm đến 30 cm.
Thân tạo thành các bẹ lá có màu rắng pha hồng, phiến là có hình bầu dục và nhọn ở dau, dai khoảng 15 em đến 25 cm, rộng khoảng 7 cm đến 10 cm, ngoài phiến lá có màu đỏ, hoa mau trang và rễ cây có màu trắng. Nuôi cấy mô Khái niệm biotechnology - công nghệ sinh học đã được đề xuất năm 1917 bởi một kỹ sư người Hungari tên là Karl Erky để mô tả quá trình chế biến củ cải đỏ làm nguồn thức ăn phục vụ sản xuất lớn với qui mô lớn. Theo Karl Erky, Biotechnology là từ ding dé chỉ “Tất cả những công việc trong đó các sản phâm được sản xuất ra từ các nguyên liệu thô với sự giúp đỡ của các vật chất sống”. Năm 1961 một nhà vi sinh vật học người Thuy Điển là Carl Goren Hedén đề nghị đổi tên tạp chí khoa học Journal of microbiological and Biochemical Engineering and technology thành Biotechnology and Bioengineering dé đăng tải các nghiên cứu trong lĩnh vực vi sinh hoc ứng dụng và lên men công nghiệp.
Từ đó, Biotechnology đã trở nên rõ ràng và luôn gan liên với những nghiên cứu về “sự sản xuât công nghiệp các loại hang hoá và dịch vụ thông qua các quá trình có sử dụng các cơ thé, hệ thống sinh học và chế biến” (Trần Văn Minh, 1999). Các kĩ thuật được sử dụng trong nuôi cấy mô 2. Nuôi cấy phôi Đối với nuôi cấy phôi, đường đóng vai trò rất quan trọng. Trong nhiều trường hợp thì đường sucrose cho kết qủa tốt hơn các đường khác.
Ngoài ra một số chất tự nhiên như nước dừa, nước chiết malt, casein thuỷ phân, là những chất rất cần trong nuôi cấy phôi. Các chất kích thích sinh trưởng như GA3, auxin, cytokinine thường được dùng nhiều trong nuôi cấy phôi. Auxin thường dùng ở nồng độ thấp. Kinetin có vai trò đặc biệt cho sự phát triển của phôi (Tran Văn Minh, 1999).
Nuôi cấy mô và cơ quan tách rời Wetmore (1946) nuôi cay đỉnh chéi cây nho dai, cùng với một số tác giả khác, ông đã chứng minh các bộ phận của cây đều có thể nuôi cấy khi gặp điều kiện thuận lợi. Lon và Ball (1946) với thí nghiệm nuôi cấy đỉnh chồi cây măng tây đã cho thấy khi nuôi các bộ phận của cây như lá, thân, hoa thì khả năng tạo mô sẹo nhiều hơn. Muốn duy trì sinh trưởng và phát triển của cơ quan nuôi cấy cần thường xuyên cấy chuyền qua môi trường mới. Đối với nuôi cấy mô, ngoài những thành phần dinh dưỡng như đối với nuôi cấy co quan tách rời, cần b6 sung thêm các chất hữu cơ chứa ít nitơ dưới dang acide amine, đường và inositol.
Trong trường hợp nuôi cấy mô, các chất điều hoà sinh trưởng có vai trò quan trọng hơn vì các mô tách rời không có khả năng tổng hợp các chất này (Tran Văn Minh, 1999). Nuôi cấy mô phân sinh Mô phân sinh thường là các mô đỉnh chdi và cành có kích thước 0,1mm + lem. Các mô phân sinh dùng dé nuôi cay thường tách từ các mầm non, các chồi mới hình thành hoặc các cành non. Đối với nuôi cấy mô phân sinh sự cân bằng giữa các chất điều hoà sinh trưởng rat quan trọng.
Muốn kích thích tạo chỗồi cần bổ sung cytokinine hoặc tổ hợp cytokinine với auxin. Muốn tạo rễ thì bố sung các auxin như NAA, IAA. Nuôi cay mô phân sinh được sử dụng để loại virus tạo cây sạch virus và nhân giống in vitro (Trần Văn Minh, 1999). Nuôi cấy bao phan Kỹ thuật nuôi cấy bao phấn đã phát triển và hoàn thiện nhờ công trình nghiên cứu của Bourgin và Nitsch (1967) trên cây thuốc lá, Niizeki và Oono (1968) những năm 4 1970 đã nhận được cây đơn bội từ nuôi cay bao phan trên 30 loại cây.
Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy hạt phan nuôi cấy có thé phát triển thành cây đơn bội hoàn chỉnh trong điều kiện nuôi cấy in vitro bằng con đường tạo phôi trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua tạo mô seo và tạo cơ quan (Tran Văn Minh, 1999). Nuôi cấy tế bào đơn Ngoài khả năng nuôi cay các cơ quan và mô thực vật, tế bào thực vật có thể được tách và nuôi riêng rẽ trong môi trường phù hợp. Những công trình về nuôi cấy tế bào đơn được tiến hành từ những năm 50 của thé ky XX. Tế bao đơn có thé nhận được bằng con đường nghiền mô, hoặc xử lý enzym.
Mỗi lọai cây, mỗi loại tế bào khác nhau đòi hỏi những kỹ thuật nuôi cấy khác nhau. Nuôi cấy tế bào đơn được sử dụng đề nghiên cứu cau trúc tế bào, nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau lên các quá trình sinh trưởng, phát triển và phân hoá của tế bào. Nuôi cấy tế bào đơn còn được sử dụng trong chọn dòng tế bào (Tran Văn Minh, 1999). Nuôi cấy protoplast Nuôi cấy protoplats được phát triển nhờ công trình của Cocking (1960).
Ông là người đầu tiên dùng enzym dé thuỷ phân thành tế bào và tách được protoplast từ tế bào rễ cà chua. Trong điều kiện nuôi cấy phù hợp protoplast có thể tái sinh thành tế bào mới, phân chia và tái sinh thành cây hoàn chỉnh. Do không có thành tế bào nên protoplast trở nên một đối tượng lý tưởng trong nghiên cứu biến đổi di truyền ở thực vat. Bằng phương pháp dung hợp hai protoplast có thể tạo ra các cây lai soma.
Ngoài ra còn có thể sử dụng kỹ thuật dung hop protoplast để chuyển các bao quan và chuyển gene (Trần Văn Minh, 1999). Phát sinh phôi soma Phôi soma là cau trức được hình thành và phát triển từ các tế bào sinh dưỡng, có thé phan hoa thanh cau tric lưỡng cực (một cực hình thành rễ, cực kia tao ra chéi) giống như phôi hợp tử và không có liên kết hệ thống mạch với tế bào gốc ban đầu, trong những điều kiện thích hợp có thé phát triển thành một cơ thé có chức năng hoàn chỉnh. Trong quá trình phát sinh phôi soma, tế bao sinh đưỡng đóng vai trò như phôi hợp tử và sự phát triển của phôi soma cũng trải qua các giai đoạn tương tự như sự sinh phôi hợp tử. Phôi soma chứa chất dinh dưỡng tương tự như phôi hữu tính, có mầm rễ và chỗồi đỉnh nên có thé nay mầm trực tiếp thành cây không qua giai đoạn phát sinh chdi rễ.
sự phát sinh phôi soma dễ hay khó tùy từng loai, mô, tế bào thực vật và các điều kiện nuôi cây ( Bùi Trang Việt, 2000 và Dương Tan Nhut, 2009). Phát sinh chỗồi co quan La su hình thành chồi trực tiếp từ mẫu cay mà không qua giai đoạn mô seo (phôi soma). Chéi bat đình xuất hiện không chỉ liên hệ với mô sinh chop mà còn xuất hiện gần vết thương, gần vết cắt, gần vùng phát sinh libe — mộc hoặc ngoài biểu bì, vì vậy chỗồi có thể có nguồn gốc nội sinh hoặc ngoại sinh do sự khử phân hóa các tế bào trưởng thành.