CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ NỢ XẤU NGÂN HÀNG. Một số vấn đề lý luận về pháp luật xử lý nợ xấu của ngân hàng 1. Khái niệm nợ xấu Ngành ngân hàng đang phải đối mặt với nhiều rủi ro khác nhau, từ trong nước đến quốc tế. Những rủi ro phải kể đến như lãi suất và tỷ giá do ảnh hưởng của chính sách tiền tệ, rủi ro an toàn vốn…Một rủi ro khác không thể nào tránh khỏi là rủi ro nợ xấu, do tình hình kinh tế suy thoái, giải ngân đầu tư công chậm, khó khăn trong việc xử lý nợ xấu.
Nợ xấu làm giảm khả năng hoàn trả của các ngân hàng, ảnh hưởng đến an toàn hoạt động và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng. Việc xử lý nợ xấu cũng gặp nhiều thách thức do thiếu thị trường mua bán nợ, thiếu pháp lý và quy trình thống nhất. Trên khía cạnh pháp luật đã có nhiều thông tư nghị định đưa ra các định nghĩa về nợ xấu nhưng văn bản hiện hành được sử dụng phải kể đến đầu tiên là Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Thống đốc NHNN. Hiện nay, khái niệm nợ xấu theo quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, ban hành theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Thống đốc NHNN bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP.
Theo thông tư 11/2021/TT-NHNN tại khoản 8 Điều 3: “Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”. Nợ xấu được hiểu là các khoản nợ khó đòi khi người vay không thể trả nợ khi đến hạn phải thanh toán như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Thời gian quá hạn thanh toán trên 90 ngày thì bị coi là nợ xấu (2). Ta có thể hiểu đơn giản nợ xấu là các khoản nợ khó đòi khi người vay không thể trả nợ khi đến hạn phải thanh toán như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng (1).
Thời gian quá hạn thanh toán trên 90 ngày thì bị coi là nợ xấu. Các nhóm nợ được phân loại theo 05 nhóm như sau: • Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn. • Nhóm 2: Nợ cần chú ý. • Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn.
• Nhóm 4: Nợ nghi ngờ. 5 • Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn. Nợ xấu thuộc các nhóm nợ 3, 4, 5 và có số ngày quá hạn thanh toán từ 90 ngày trở lên. Việc phát sinh nợ xấu có thể gây ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của người vay trong tương lai vì toàn bộ các thông tin về nợ xấu sẽ được lưu lại trên hệ thống của Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam CIC.
Nếu muốn phòng tránh nợ xấu, người vay cần lập kế hoạch tài chính hợp lý, chọn sản phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu và khả năng, và tuân thủ đúng các điều khoản trong hợp đồng tín dụng. Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đưa ra khái niệm nợ xấu như sau: “Một khoản vay được coi là không sinh lời hay còn gọi là nợ xấu khi 90 ngày trở lên mà chưa được thanh toán gốc hoặc lãi; khi các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo như thỏa thuận của hai bên; đến thời hạn các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không có khả năng hoàn trả nợ đầy đủ (người vay có thể phá sản, mất khả năng chi trả)”. Khả năng chi trả của khách hàng ở đây có thể hiểu một cách đơn giản là tổng số tiền gốc và lãi hoặc một phần gốc và lãi cộng lại (3). Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng.
Việt Nam nằm trong top các nước có tỉ lệ nợ xấu cao hơn so với các quốc gia Đông Á – Thái Bình Dương, vì Việt Nam có tín dụng chiếm phần lớn tổng tài sản, đem lại nguồn thu lớn nhưng cũng rủi ro cao nhất cho Ngân hàng. Quản lý nợ xấu là vấn đề hàng đầu cần được quan tâm, vì nó quyết định hiệu quả hoạt động của Ngân hàng, ngoài ra tác động trực tiếp đến sự lưu thông vốn của nền kinh tế Việt Nam. Như thế có thể thấy rằng trong ngành ngân hàng nợ xấu là những khoản tiền ngân hàng cho khách hàng có thể là cá nhân, doanh nghiệp… nhưng đã qua 90 ngày mà khách hàng mất khả năng chi trả số tiền cho vay không thể thu hồi về. Mặc dù chúng được cho vay bởi các ngân hàng trong và ngoài nước đảm bảo về mặt luật pháp – được thẩm định trước khi khoản vay được duyệt.
Trong đó vẫn còn có những hạn chế về các trường hợp không thể giải quyết triệt về mặt pháp lý để làm ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của các ngân hàng thương mại. Khái niệm xử lý nợ xấu Xử lý nợ xấu là công việc mà các cơ quan có thẩm quyền đưa ra quá trình giải quyết các khoản nợ mà khách hàng chưa thể trả đúng theo thời hạn hoặc khách hàng mất khả năng chi trả cho ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng theo các quy định của pháp 6 luật. Xử lý nợ xấu là quy trình cần thiết để đưa những biện pháp nhằm bảo đảm an toàn cho mọi hoạt động và ổn định hệ thống ngân hàng. Văn bản pháp luật chuyên biệt và mới nhất về xử lý nợ xấu, có hiệu lực từ ngày 15/8/2017 đến ngày 15/8/2022 là Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm cơ chế xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.
Nghị quyết này quy định các nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục và cơ chế xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Nghị quyết này cũng cho phép các tổ chức tín dụng thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu mà không cần khởi kiện hoặc thực hiện biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án. Để xử lý nợ xấu văn bản luật được sử dụng nhiều nhất là Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12. Đây được coi là luật cơ bản về hoạt động của các tổ chức tín dụng, trong đó có quy định về việc phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, xử lý nợ và tài sản đảm bảo.
Luật này đã được sửa đổi và bổ sung một số điều bởi Luật số 17/2017/QH14. Cuối cùng là Thông tư số 02/2013/TT- NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phân loại tài sản, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư hướng dẫn chi tiết về việc phân loại nợ theo 5 nhóm (nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ có khả năng mất vốn và nợ mất vốn), việc trích lập dự phòng rủi ro theo từng nhóm nợ và việc sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu. Để ổn định hệ thống tài chính việc quan trọng và cần thiết quan tầm hàng đầu là cần phải xử lý nợ xấu.
Điều này đòi hỏi việc áp dụng quy phạm pháp luật, khung pháp lý một cách phù hợp là rất cần thiết nhằm khắc phục các khoản nợ đang có nguy cơ khó thu hồi hoặc quá hạn rất lâu. Mặt khác, các văn bản pháp luật phòng ngừa nợ xấu sảy ra cũng phải được thực hiện đồng thời để kịp thời ngăn chặn nợ nần chồng chất trong tương lai. Cuối cùng cả hai biện pháp thực tiễn này phải luôn được áp dụng trong bất kỳ hệ sinh thái tài chính nhất định nào bảo gồm cả nhà nước lẫn tư nhân. Trong suốt quá trình tái tạo lại cấu trúc nền kinh tế còn phụ thuộc rất nhiều vào xử lý nợ xấu một vai trò không thể thay đổi.
Chúng ta cần phải nhanh chóng hành động để giải quyết nợ xấu giảm thiệu sự trì hoãn vì nó có thể gây ra những tác động gây hậu quả nặng nề cho nền kinh tế và củng cố thêm khung pháp lý về vấn đề xử lý nợ xấu ngày một hoàn thiện hơn. 7 Như vậy, xử lý nợ xấu không chỉ là công việc của một cơ quan mà còn là trách nhiệm của một cá thể thúc đẩy việc giải quyết nợ xấu một cách hiệu quả trong việc sử dụng các văn bản pháp lý. Văn bản pháp luật chính là một công cụ cần thiết và quan trọng hỗ trợ xử lý nợ xấu, từ đó đưa ra các lập luận góp phần hoàn thiện hơn khung pháp lý dựa trên những gì đang và đã sử dụng hiện nay. Bản chất của nợ xấu Bản chất của nợ xấu của ngành ngân hàng chính là việc cho vay một khoản tiền mà ngân hàng xác định không thể thu hồi lại được hay nói cách khác là khách hàng mất khả năng chi trả và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu hồi.
Điển hình là các doanh nghiệp, các chính sách áp dụng hay các văn bản pháp lý đưa ra nhằm giảm thiểu nợ xấu nhưng ảnh hưởng bởi nền kinh tế lạm phát và dịch COVID- 19 khiến nợ xấu xảy ra ngày một tăng, khoản tiền cho doanh nghiệp vay làm ăn do thua lỗ hoặc phá sản không thể thu hồi ngày càng nhiều khiến ngành ngân hàng dơi vào lao đao. Nợ xấu bản chất là xuất phát từ quan hệ hợp đồng khi cho vay giữa các bên dân sự, mối quan hệ chủ nợ phải kể đến đầu tiên là ngân hàng - chủ nợ, khách hàng - con nợ. Bên cạnh đó thông tư, nghị định đưa ra cho doanh nghiệp giúp ngân hàng giải quyết rủi ro bị ảnh hưởng nặng nề như giảm lợi nhuận, tăng chi phí dự phòng rủi ro, giảm khả năng cấp tín dụng, ảnh hưởng đến uy tín và niềm tin của khách hàng và đối tác (4). Căn cứ các văn bản pháp lý về hợp đồng cho vay như sau: Theo Bộ luật dân sự năm 2015, căn cứ điều 419: “Hợp đồng cho vay là hợp đồng mà theo đó bên cho vay cam kết chuyển giao cho bên vay một số tiền hoặc một số lượng tài sản khác có giá trị tính bằng tiền và bên vay cam kết trả lại cho bên cho vay số tiền hoặc số lượng tài sản có giá trị tương đương như đã nhận và phải trả lãi nếu có thoả thuận” (5).