phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CÁC CHI NHÁNH KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CÁC CHI NHÁNH KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm Ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. Ngân hàng thƣơng mại đƣợc xem là một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tƣ phát triển kinh tế.
Có thể xem xét một số khái niệm về NHTM nhƣ sau: Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam có quy định: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Nhƣ vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thƣờng xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. Khái niệm về nợ xấu Quan điểm về nợ xấu ở các quốc gia khác nhau và dƣới góc nhìn của các chủ thể khác nhau trong cùng một nền kinh tế sẽ có những sự khác biệt.
Nếu đứng dƣới góc nhìn của các NHTM, nợ xấu có thể hiểu là những khoản cho vay không có khả năng sinh lời hay những khoản cho vay không còn hoạt động khi ngƣời vay dừng việc thanh toán gốc, lãi. 7 Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Một khoản vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”. Về cơ bản, nợ xấu theo quan điểm của IMF đƣợc định nghĩa dựa trên hai yếu tố: Quá hạn trên 90 ngày hoặc khả năng trả nợ bị nghi ngờ, Với quan điểm này, nợ xấu đƣợc tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng. Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả đƣợc nợ hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ.
Đây đƣợc coi là định nghĩa hiện đang đƣợc áp dụng phổ biến trên thế giới. Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam: Theo thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN của Thống đốc NHNN ngày 21/01/2013 về việc Quy định phân loại tài sản có, mức trích lập, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro (DPRR) trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh nƣớc ngoài thì nợ xấu đƣợc định nghĩa tại Điều 3 nhƣ sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)”. Nợ xấu theo quan điểm của NHNN Việt Nam cũng đƣợc xác định dựa trên hai yếu tố: Đã quá hạn trên 91 ngày hoặc khả năng trả nợ đáng lo ngại. Tuy nhiên, việc các NHTM Việt Nam tiếp cận theo yếu tố nào là phụ thuộc vào khả năng và điều kiện tiến hành phân loại nợ theo Điều 10 hay Điều 11 của Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN Sau khi tham khảo các quan điểm trên, quan điểm về nợ xấu nói chung của tác giả là việc đánh giá một khoản nợ là nợ xấu hay không phụ thuộc vào khả năng trả nợ của khách hàng.
Theo đó, một khoản cho vay trong hạn, hoặc thậm chí mới giải ngân nhƣng xuất hiện các dấu hiệu chứng tỏ khả năng trả nợ của ngƣời vay là đáng nghi ngờ thì cũng có thể coi là một khoản nợ xấu, 8 cần có những biện pháp theo dõi, quản lý/xử lý phù hợp. Nợ xấu là vấn đề tồn đọng trong nhiều NHTM vì hoạt động tín dụng luôn chứa đựng những rủi ro đáng kể. Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà các ngân hàng thƣơng mại xác định không thể thu hồi lại đƣợc hoặc nếu có thu lại đƣợc, thì thƣờng rất khó và mất thời gian. Hầu hết trong các ngân hàng thƣơng mại, nợ xấu chính là các khoản tiền mà ngân hàng cho khách hàng (phổ biến là các tổ chức, doanh nghiệp) vay nhƣng khi đến hạn thu hồi nợ lại không thể đòi đƣợc do yếu tố chủ quan từ chính phía khách hàng nhƣ doanh nghiệp, tổ chức vay tín dụng làm ăn thua lỗ, phá sản dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán khoản nợ đã vay khi đến kỳ hạn.
Các khoản nợ xấu thƣờng bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của các ngân hàng thƣơng mại và điều này gây tổn thất không nhỏ cho hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng. Nợ xấu càng cao thì rủi ro và tổn thất dòng vốn của các NHTM càng lớn. Phân loại nợ và nợ xấu Phân loại nợ Khái niệm: “Phân loại nợ là việc các tổ chức tín dụng căn cứ vào các tiêu chuẩn định tính và định lượng để đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay và các cam kết ngoại bảng, trên cơ sở đó phân loại các khoản nợ vào các nhóm nợ thích hợp”. Theo quy định tại khoản 1, Điều 1 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về đối tƣợng phải phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro bắt buộc là các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam trừ Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH).
Phân tích quy định này cho thấy hoạt động của các tổ chức tín dụng vì mục tiêu lợi nhuận nên luôn đối mặt với các rủi ro tiềm ẩn. Trƣờng hợp chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài tại Việt Nam muốn thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo quy định của ngân hàng nƣớc ngoài, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài phải trình NHNN 9 chính sách trích lập dự phòng của ngân hàng nƣớc ngoài để xem xét, quyết định. Theo Điều 11 (Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN) về việc Phân loại nợ theo phƣơng pháp định tính, TCTD thực hiện phân loại nợ theo 05 nhóm nhƣ sau: - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ đƣợc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. - Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ đƣợc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhƣng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ.
- Nhóm 3 (Nợ dƣới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ đƣợc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này đƣợc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ đƣợc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao. - Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ đƣợc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Nợ xấu Khái niệm: “Nợ xấu là những khoản nợ phát sinh từ hoạt động cho vay, không được thanh toán đầy đủ cho ngân hàng hoặc được đánh giá là không có khả năng thu hồi, bao gồm cả các khoản nợ xấu thông thường đang hạch toán nội bảng cân đối kế toán (nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo Điều 7 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN) và các khoản nợ đã xử lý bằng quỹ dự phòng của ngân hàng được theo dõi tại ngoại bảng” Kể từ sau khi Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam đƣợc ban hành, Việt Nam mới thực sự đề 10 cập đến khái niệm về nợ xấu. Mặc dù đã dần tiếp cận với những chuẩn mực quốc tế, đề cấp đến việc đánh giá các khoản nợ trên cả khía cạnh định lƣợng và định tính, tuy nhiên vẫn có những sự khác biệt nhất định. Tuy nhiên, các quan niệm về nợ xấu giữa các quốc gia và theo thông lệ quốc tế đều chỉ dừng lại ở việc đánh giá các khoản vay thông thƣờng trên cơ sở khả năng trả nợ hiện thời của khách hàng vay, mà không đề cập đến những khoản vay đã đƣợc xử lý bằng quỹ dự phòng của TCTD. Những khoản nợ đã đƣợc xử lý bằng quỹ dự phòng của TCTD về bản chất cũng nhƣ quy định của pháp luật thì vẫn cần đƣợc theo dõi, quản lý và thu hồi.
Dấu hiệu và nguyên nhân phát sinh nợ xấu tại ngân hàng thƣơng mại Dấu hiệu nhận biết nợ xấu Nhận biết nợ xấu là bƣớc đầu tiên trong quá trình xử lý nợ xấu ngân hàng, NHTM sẽ căn cứ vào một số tiêu thức nhất định để nhận diện hoặc xác định khoản nợ đó có phải là nợ xấu hay không. Để nhận biết các khoản nợ xấu, mỗi quốc gia với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và thị trƣờng tài chính khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau. Một số tiêu chí thƣờng đƣợc các NHTM sử dụng trong việc nhận biết nợ xấu là: Theo Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS), có thể nhận diện nợ xấu thông qua ít nhất là một trong hai dấu hiệu sau: Khoản nợ quá hạn ít nhất 90 ngày hoặc có dấu hiệu rõ rệt cho thấy khả năng tài chính của khách hàng đang bị giảm sút gây nguy hại đến việc trả nợ ngân hàng.