Chương 1 giới thiệu tổng quát về hệ thống NHTM trên địa bàn tỉnh Phú Yên, phân tích đánh giá tình hình huy động vốn, tình hình cho vay và doanh thu từ các dịch vụ phi lãi nhằm tổng hợp thực trạng kinh doanh của các NHTM trên địa bàn. Trên cơ sở đánh giá, phân tích số liệu liên quan nợ xấu giai đoạn 2013-2016 của các chi nhánh NHTM trên địa bàn, luận văn đánh giá chung về tình hình xử lý nợ xấu và các biểu hiện hạn chế phát sinh trong xử lý nợ xấu của các chi nhánh NHTM trên địa bàn ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU 17 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH NỢ XẤU CỦA CÁC CHI NHÁNH NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ YÊN.Tổng quan về nợ xấu trong hoạt động ngân hàng thương mại 2. Khái niệm nợ xấu ❖ Theo tiêu chuẩn của Tổ chức quốc tế của các Ngân hàng Trung ương (Bank for International Settlements – BIS) Theo BIS, nợ xấu có thể xác định căn cứ vào hai yếu tố chính là thời gian quá hạn hoặc khả năng trả nợ của khách hàng. Nợ xấu bao gồm: Các khoản nợ dưới chuẩn (khoản nợ lãi và gốc quá hạn trên 90 ngày); Nợ nghi ngờ (các khoản nợ mà Ngân hàng nghi ngờ khả năng trả nợ, có khả năng sẽ mất vốn); Nợ mất vốn (các khoản nợ không có khả năng thu hồi).
❖ Khái niệm nợ xấu theo Quỹ tiền tệ thế giới IMF IMF định nghĩa về nợ xấu như sau: “ Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi nhập gốc chậm trả trên 90 ngày; ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU hoặc khi các khoản vay đáo hạn dưới 90 ngày nhưng có dấu hiệu rõ ràng cho thấy khách hàng không thể trả nợ”. ❖ Tại Việt Nam: Ở Việt Nam, khái niệm nơ ̣ xấ u đươ ̣c đề cập trong Điề u 10, điề u 11, Thông tư số 02/2013/ TT- NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN Việt Nam Quy đinh ̣ việc phân loa ̣i tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử du ̣ng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoa ̣t động của tổ chức tín du ̣ng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (từ đây go ̣i tắ t là Thông tư 02). Cu ̣ thể : - “Nơ ̣ xấ u” là các khoản nơ ̣ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 bao gồ m nơ ̣ dưới tiêu chuẩ n, nơ ̣ nghi ngờ, nơ ̣ có khả năng mấ t vố n qui đinh ̣ ta ̣i Điề u 10 của Thông tư 02. Theo đó, nợ xấu là các khoản nợ quá hạn 90 ngay…” Tỷ lệ nợ xấu được tính bằng công thức: Tỷ lệ nợ xấu (%) = (Dư nợ xấu / Tổng dư nợ) * 100 18 Tỷ lệ nợ xấu phản ánh chất lượng tín dụng của TCTD, đây cũng là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của các đơn vị.
Tỷ lệ nợ xấu càng cao sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc duy trì ổn định và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nếu không giải quyết kịp thời nợ xấu thì sẽ xảy ra khả năng trích lập dự phòng có thể không đủ để bù đắp tổn thất, ngân hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính, thanh khoản… 2. Các dấu hiệu của những khoản nợ xấu Thực tế cho thấy việc thất bại trong hoạt động kinh doanh thường được biểu hiện qua một vài dấu hiệu báo động. Có những dấu hiệu không rõ ràng, có những dấu hiệu biểu hiện rất cụ thể.
Ngân hàng cần có giải pháp nhận ra những dấu hiệu sớm của khoản vay có vấn đề và có những hành động cần thiết để ngăn ngừa và xử lý. Có thể chia các dấu hiệu của khoản tín dụng có vấn đề thành các nhóm sau: 2. Dấu hiệu từ hoạt động SXKD của khách hàng Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng, qua nghiệp ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU vụ quản lý các tài khoản của khách hàng đã cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng như sau: Khó khăn trong thanh toán lương; Tình trạng giảm sút số dư tài khoản tiền gửi; Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn; Không có khả năng thực hiện các phương pháp cắt giảm chi phí; Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn… Biểu hiện qua các hoạt động cho vay như: Mức độ vay thường xuyên gia tăng; Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi; Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến… Ngoài ra còn có các biểu hiện qua tình hình tài chính: Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển dài hạn; Giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu… 2. Dấu hiệu thuộc về quản lý của khách hàng Thay đổi thường xuyên bộ máy, cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành.
Nội bộ ban điều hành thường xuyên bất đồng trong định hướng mục đích 19 hoạt động , không có sự tập trung thống nhất. Cách thức điều hành quản lý của khách hàng có những biểu hiện sau: i) Hội đồng Quản trị (HĐQT) hoặc Giám đốc điều hành ít hay không có kinh nghiệm; Chưa thường quyên quan tâm đến lợi ích của cổ đông, chủ nợ; tình trạng luân chuyển, xa thải nhân viên diễn ra thường xuyên. ii) Phát sinh các chi phí quản lý bất hợp lí: các chi phí để không cần thiết để tạo hình ảnh kinh doanh như thiết bị văn phòng rất hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền, không phân biệt rõ ràng giữa chi phí kinh doanh và chi phí cá nhân ban điều hành. Dấu hiệu từ các thông tin tài chính Các số liệu tài chính không đầy đủ, chậm trễ, trì hoãn các báo cáo tài chính và qua phân tích cho thấy: Có sự gia tăng không bất thường về tỷ lệ nợ thường xuyên; Tăng doanh số nhưng giảm lãi hoặc không có lãi; Các tài khoản hạch toán vốn lưu động không khớp; Lượng hàng hóa tăng nhanh hơn doanh số bán … Bên ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU cạnh đó còn có các dấu hiệu có thể nhìn thấy ngay: Những vấn đề về đạo đức, hình thức, biểu hiện của đơn vị hoặc của người lãnh đạo tổ chức, đơn vị, khách hàng vay… 2.
Nguyên nhân phát sinh nợ xấu Các nghiên cứu trước đây đã đưa ra nhiều yêu tố là nguyên nhân tác động gây nợ xấu như: tình hình kinh tế vĩ mô (Carey, 1998), các yếu tố vi mô thuộc nội tại ngân hàng và đa dạng hóa sản phẩm (Salas và cs.,2002; Rajan và cs., 2003; Hu và ctg., 2004), hiệu quả quản lý chi phí không tốt (Podpiera và cs 2006). Tô Ngọc Hưng (năm 2014) cũng đã đưa ra các nguyên nhân dẫn đến thực trạng nợ xấu tại hệ thống NHTM Việt Nam, gồm: (1) môi trường kinh tế bất ổn, lạm phát và lãi suất tăng cao, tín dụng dư thừa, phân bổ vốn không hiệu quả, khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp suy giảm trầm trọng, tăng trưởng kinh tế suy giảm; (2) hiệu quả đầu tư thấp, khả năng quản trị và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp yếu kém, dẫn tới thua lỗ, mất vốn, mất khả năng trả nợ; (3) quản trị ngân hàng, đặc biệt là quản rủi ro còn nhiều bất cập; (4) các nhân tố khác gồm: hạn chế trong công 20 tác thanh tra giám sát; thiếu hành lang pháp lý liên quan tới hoạt động xử lý nợ; ưu đãi tín dụng, sở hữu chéo giữa khu vực ngân hàng và DNNN phổ biến; nợ xây dựng cơ bản của vốn ngân sách cao. Qua các nghiên cứu thực tế trên có thể thấy có rất nhiều nguyên nhân gây ra nợ xấu, song nhìn chung, chúng có thể được sắp xếp và gói gọn vào các nhóm nguyên nhân chính sau: Nguyên nhân từ phía khách hàng, nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng và các nguyên nhân khác từ môi trường bên ngoài (môi trường kình tế, môi trường pháp lý…) 2. Nguyên nhân từ phía khách hàng Trong nhóm nguyên nhân thứ 2 gây nợ xấu cho các NHTM Việt Nam theo Tô Ngọc Hưng (năm 2014) là: hiệu quả đầu tư thấp, khả năng quản trị và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp yếu kém, dẫn tới thua lỗ, mất vốn, mất khả năng trả nợ.
Nhóm nguyên nhân này, chủ yếu xuất phát từ phía khách hàng nói chung (gồm pháp nhân và thể nhân), cụ thể như sau: ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU • Khách hàng sử dụng vốn vay không hiệu quả: Có thể nguồn tiền vay không được sử dụng như đã ký kết trong hợp đồng mà dành cho những mục tiêu chứa đựng nhiều rủi ro hơn, gây thất thoát tiền vốn, dẫn đến giảm hoặc mất khả năng trả nợ vay. Nhiều khách hàng dùng tiền ngân hàng quay vốn không đúng đối tượng kinh doanh hoặc xử lý vốn vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản cố định hoặc kinh doanh bất động sản nên đã không trả nợ được đúng hạn. • Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng: Do trình độ, năng lực điều hành quản lý kinh doanh của doanh nghiệp còn yếu kém làm giảm hiệu quả kinh doanh, thậm chí còn gây thua lỗ, dẫn đến việc gặp khó khăn về dòng tiền, làm giảm khả năng thanh toán nợ vay. Nhiều doanh nghiệp tham gia kinh doanh quá nhiều mặt hàng, vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh vượt khả năng quản lý, hoặc dự đoán sai nhu cầu thị trường, nhập một số lượng hàng hóa quá lớn, dẫn đến ứ đọng hàng hoá, tồn đọng vốn, dẫn đến tính trạng nợ không trả được.
• Khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng: Một số khách hàng lợi dụng khe hở của pháp luật để tính toán lừa đảo chiếm dụng vốn, vay không có 21 ý định trả ngay từ khi bắt đầu lập bộ hồ sơ vay vốn. Một số khách hàng cố tình chây ì không thực hiện những cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng Ngoài nguyên nhân từ phía khách hàng, từ các yếu tố vĩ mô, một số nghiên cứu khác đã thực hiện kiểm định các chỉ số liên quan đến sức khoẻ tài chính và chất lượng quản trị ngân hàng ảnh hưởng như thế nào đến nợ xấu, cụ thể như: Berge và cs (1997) cho thấy các yếu tố: kém may mắn, quản trị tồi và vi phạm đạo đức nghề nghiệp đã tác động tiêu cực tới nợ xấu NHTM Mỹ giai đoạn 1985-1994; Podpiera và cs (2006) nghiên cứu tình hình nợ xấu ngân hàng Cộng hoà Séc từ năm 1994-2005 đã chỉ ra hiệu quả quản lý chi phí không tốt đã tác động làm tăng nợ xấu ngân hàng.