CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN TRONG DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN TRONG DOANH NGHIỆP. Những vấn đề lý luận về người đại diên trong doanh nghiệp. Khái niệm đại diện Đại diện là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, bao gồm các quốc gia theo civilaw và common law. Thậm chí quốc gia theo hệ thống thông luật còn có học thuyết riêng khá toàn diện về đại diện (Law of agency).
Chế định đại diện còn được nhắc đến trong văn bản mang tính quốc tế như: Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của Unidroit, nguyên tắc luật hợp đồng châu Âu, luật thống nhất về thương mại AHADA, công ước của Unidroit về đại diện trong mua bán hàng hóa quốc tế, công ước Hague về luật áp dụng đối với đại diện,… Sự ra đời và phát triển của chế định đại diện ở các nước Châu Âu lục địa dựa trên nền tảng tư tưởng của trường phái luật tự nhiên trong bối cảnh thương mại và công nghiệp đang phát triển mạnh với sự xuất hiện các vấn đề như giao một con tàu cho thuyền trưởng điều khiển và quản lý hay hoạt động kinh doanh thông qua sự điều hành của người khác. Còn theo truyền thống Common law, pháp luật về đại diện (agency law) bắt nguồn từ một châm ngôn La tinh: “Qui facit per alium, facit per se” nghĩa là: hành động của một người thông qua một chủ thể khác được pháp luật coi là hành động của chính người đó. Quan hệ đại diện là một dạng quan hệ phức hợp được tạo bởi quan hệ giữa người ủy quyền (principal), người đại diện (agent) và người thứ ba (third party) Trên lĩnh vực pháp luật công ty, pháp luật của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều quan tâm điều chỉnh vấn đề đại diện, đặc biệt là trong vấn đề quản trị công ty (corporate governance). Công ty với tư cách là một pháp nhân – một thực thể pháp lý độc lập (a separate legal entity), tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua những con người cụ thể - những người quản lý.
Do đó, công ty luôn cần có người đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý thì vấn đề quản trị công ty xuất hiện. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Còn người khởi xướng lý thuyết đại diện (agency theory), Jensen và Mecklin giải thích như sau: “Lý thuyết đại diện liên quan đến một hợp đồng theo đó một hoặc vài người (cổ đông) giao cho người khác (thành viên HĐQT) thay mặt họ thực hiện một số dịch vụ, trong đó có việc ủy quyền ra quyết định cho đại diện. Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này là những người muốn tối đa hóa lợi ích, chúng ta có lý do để tin rằng đại diện sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích của người chủ” Do tầm quan trọng của chế định đại diện mà Bộ luật Dân sự 2015 đã dành hẳn một chương riêng để quy định về đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự.
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 thì “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”. Ngoài ra chế định đại diện còn được ghi nhận trong nhiều văn bản khác như Luật Doanh nghiệp, Luật chứng khoán, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật hợp tác xã, Luật luật sự,… 1. Khái niệm người đại diện trong doanh nghiệp. Người đại diện của doanh nghiệp là người được chủ sở hữu nguồn lực (chủ doanh nghiệp) trao một số quyền quản lý nhất định đối với nguồn lực của chủ sở hữu nhằm phục vụ lợi ích của chủ sở hữu.
Cụ thể trong các doanh nghiệp, các giám đốc, quản lý và người làm công là người được ủy quyền (được thuê) để tối đa hóa lợi nhuận từ doanh nghiệp cho chủ sở hữu. Với khái niệm này, người đại diện của doanh nghiệp có một số đặc điểm cơ bản sau: - Về chủ thể: Chủ thể đại diện phải là cá nhân và bên được đại diện là Doanh nghiệp. Chủ thể đại diện phải là cá nhân. Người đại diện của doanh nghiệp phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
Năng lực hành vi dân sự là khả năng của chủ thể bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân phụ thuộc vào lứa tuổi và được xác định theo pháp luật của từng quốc gia. Theo pháp luật thực định Việt Nam, cá nhân được xem là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đã đủ 18 tuổi trở lên và không bị toà án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Về năng lực hành vi dân sự, một số nền tài phán có quan điểm khác nhau, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái lan quy định rằng nếu người được đại diện sử dụng một người không có năng lực làm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người đại diện thì người được đại diện vẫn phải bị ràng buột bởi hành vi của người đại diện.
Quan điểm này có lẽ xuất phát từ nhận thức: năng lực của người đại diện (người thụ ủy) xuất phát từ người được đại diện (người chủ ủy), do vậy bản thân người đại diện không cần có năng lực pháp lý đầy đủ. Nhận thức như vậy mới có thể xử lý được các hành vi phạm tội thông quan người vô năng và tạo điều kiện dễ dàng cho các hoạt động phát triển các thiết bị giao dịch trên thương trường. Chủ thể được đại diện là Doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp bao gồm: công ty Trách nhiệm Hữu hạn, Hộ kinh doanh, công ty Cổ phần, Công ty Hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân. - Về nghĩa vụ: Người đại diện của doanh nghiệp nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp khi thực hiện việc đại diện. Người đại diện của doanh nghiệp là người có thẩm quyền nhân danh doanh nghiệp tham gia, xác lập và thực hiện các giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp. Trong mối quan hệ giữa người chủ sở hữu, cổ đông và người đại diện thì người đại diện được coi như là người thụ ủy và phải có nghĩa vụ của người thụ ủy.
Đây được xem là mối quan hệ ủy thác tài sản, khi tài sản được đặt dưới sự kiểm soát của người được ủy thác vì lợi ích của một người thụ hưởng hoặc cho một mục đích đã định. Người được ủy thác có quyền và bổn phận và chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng theo các điều khoản ủy thác và nhiệm vụ đặc biệt mà luật pháp áp đặt. Hay nói cách khác, người đại diện của doanh nghiệp là người có trách nhiệm với tài sản của chủ sở hữu. - Về phạm vi: Người đại diện của doanh nghiệp chỉ được nhân danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện giao dịch trong phạm vi đại diện.
Giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện chỉ có hiệu lực pháp lý đối với người được đại diện khi và chỉ khi giao dịch đó phù hợp với phạm vi đại diện. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng và tác động đến hầu hết mọi vấn đề liên quan đến quan hệ đại diện. Quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp, của người đại diện và của người thứ ba có phát sinh hay không, được thực hiện như thế nào phụ thuộc vào việc người đại diện có thực hiện đúng phạm vi đại diện của mình hay không. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do đó, đòi hỏi người đại diện phải minh bạch trong việc cung cấp thông tin về phạm vi đại diện trước khi xác lập các giao dịch.
Các hình thức đại diện theo pháp luật trong Doanh nghiệp Điều 85 Bộ luật Dân sự 2015 quy định đại diện của pháp nhân được thể hiện dưới hai hình thức: đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Đại diện theo pháp luật Doanh nghiệp với tư cách là một tổ chức có tư cách pháp nhân - một thực thể pháp lý độc lập, tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua con người cụ thể - Người quản lý doanh nghiệp. Cũng vì thế, doanh nghiệp luôn cần có người đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Hoạt động của một doanh nghiệp được thông qua người đại diện theo pháp luật.
Người đại diện theo pháp luật sẽ nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch thể hiện mối quan hệ với các chủ thể trong doanh nghiệp (như với các thành viên, cổ đông góp vốn) hoặc với các chủ thể khác bên ngoài doanh nghiệp (đối tác, khách hàng, cơ quan quản lý nhà nước. Trong suốt quá trình hoạt động, từ khi thành lập đến khi giải thể hoặc tuyên bố phá sản hay sáp nhập, chia, tách, doanh nghiệp phải đảm bảo luôn có người đại diện theo pháp luật. Đối với hình thức đại diện theo pháp luật, đây là là hình thức đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 1 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2014 “là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”.
Một số đặc điểm cơ bản về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp như sau: Thứ nhất, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải là cá nhân và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thay mặt doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhằm mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, do đó họ phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.