CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN TRONG DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN TRONG DOANH NGHIỆP. Những vấn đề lý luận về người đại diên trong doanh nghiệp. Khái niệm người đại diện trong doanh nghiệp. Một điểm khác biệt, tiến bộ nữa cũng cần phải nhấn mạnh rằng, với thuật ngữ “người đại diện” thì pháp luật Việt Nam đã làm rõ liệu một cá nhân, pháp nhân có thể làm đại diện được không.
Bộ luật Dân sự 2015 mới đã chính thức cho phép một pháp nhân có thể ủy quyền cho một pháp nhân khác xác lập và/ hoặc thực hiện giao dịch cho mình. Thực vậy, khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 quy định đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Nhưng nghiên cứu pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới thì thuật ngữ “người” được hiểu khá rộng. Theo từ điển Luật học của New Zealand Butterworths (xuất bản lần thứ 5) thì quan niệm người bao gồm cả tự nhiên nhân và pháp nhân (Butterworths New Zealand Law Dictionary, 5th Edition).
Bộ luật Washington (sửa đổi) quan niệm rất rộng: “Thuật ngữ “người” có thể được đề cập bao gồm cả Hoa Kỳ, hoặc bất kỳ nhà nước và vùng lãnh thổ nào, hoặc bất kỳ công ty công cộng nào, cũng như một cá nhân” (The Revised Code of Washington). Vì thế pháp luật nhiều nước cho phép pháp nhân có thể làm đại diện. Rõ ràng pháp luật thực định Việt Nam đã dự liệu một cách đầy đủ về vấn đề này và cập nhập cho phù hợp với pháp luật quốc tế. Người đại diện của doanh nghiệp là người nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi đại diện.
Với khái niệm này, người đại diện của doanh nghiệp có một số đặc điểm cơ bản sau: - Về chủ thể: Chủ thể đại diện phải là cá nhân và bên được đại diện là doanh nghiệp. Chủ thể đại diện phải là cá nhân. Người đại diện của doanh nghiệp phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Năng lực hành vi dân sự là khả năng của chủ thể bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân phụ thuộc vào lứa tuổi và được xác định theo pháp luật của từng quốc gia. Theo pháp luật thực định Việt Nam, cá nhân được xem là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đã đủ 18 tuổi trở lên và không bị toà án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Chủ thể được đại diện là doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp bao gồm: công ty Trách nhiệm Hữu hạn, Hộ kinh doanh, công ty Cổ phần, Công ty Hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân. - Về nghĩa vụ: Người đại diện của doanh nghiệp nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp khi thực hiện việc đại diện. Người đại diện của doanh nghiệp là người có thẩm quyền nhân danh doanh nghiệp tham gia, xác lập và thực hiện các giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp. Trong mối quan hệ giữa người chủ sở hữu, cổ đông và người đại diện thì người đại diện được coi như là người thụ ủy và phải có nghĩa vụ của người thụ ủy.
Đây được xem là mối quan hệ ủy thác tài sản, khi tài sản được đặt dưới sự kiểm soát của người được ủy thác vì lợi ích của một người thụ hưởng hoặc cho một mục đích đã định. Người được ủy thác có quyền và bổn phận và chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng theo các điều khoản ủy thác và nhiệm vụ đặc biệt mà luật pháp áp đặt. Hay nói cách khác, người đại diện của doanh nghiệp là người có trách nhiệm với tài sản của chủ sở hữu. - Về phạm vi: Người đại diện của doanh nghiệp chỉ được nhân danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện giao dịch trong phạm vi đại diện.
Giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện chỉ có hiệu lực pháp lý đối với người được đại diện khi và chỉ khi giao dịch đó phù hợp với phạm vi đại diện. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng và tác động đến hầu hết mọi vấn đề liên quan đến quan hệ đại diện. Quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp, của người đại diện và của người thứ ba có phát sinh hay không, được thực hiện như thế nào phụ thuộc vào việc người đại diện có thực hiện đúng phạm vi đại diện của mình hay không. Do đó, đòi hỏi người đại diện phải minh bạch trong việc cung cấp thông tin về phạm vi đại diện trước khi xác lập các giao dịch.
Các hình thức đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp. Đại diện của pháp nhân được thể hiện dưới hai hình thức: đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Đại diện theo pháp luật Khoản 1 điều 13 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”. Hoạt động của một doanh nghiệp được thông qua người đại diện theo pháp luật.
Người đại diện theo pháp luật sẽ nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch thể hiện mối quan hệ với các chủ thể trong doanh nghiệp (như 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với các thành viên, cổ đông góp vốn) hoặc với các chủ thể khác bên ngoài doanh nghiệp (đối tác, khách hàng, cơ quan quản lý nhà nước. Trong suốt quá trình hoạt động, từ khi thành lập đến khi giải thể hoặc tuyên bố phá sản hay sáp nhập, chia, tách, doanh nghiệp phải đảm bảo luôn có người đại diện theo pháp luật. Đối với hình thức đại diện theo pháp luật, đây là là hình thức đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Một số đặc điểm cơ bản về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp như sau: Thứ nhất: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải là cá nhân và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thay mặt doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhằm mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, do đó họ phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Thứ hai: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thường trú tại Việt Nam. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người thay mặt công ty trong việc tổ chức nội bộ doanh nghiệp và giao dịch với bên ngoài. Do đó, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thường xuyên có mặt tại doanh nghiệp.
Để thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, pháp luật bắt buộc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thường trú ở Việt Nam; trường hợp vắng mặt trên ba mươi ngày ở Việt Nam thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Thứ ba: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hành động nhân danh doanh nghiệp. Trong quản lý doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật hành động nhân danh doanh nghiệp - đại diện đương nhiên - và thay mặt các chủ sở hữu doanh nghiệp - đại diện ủy quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp. Thứ tư: Thù lao đại diện người đại diện theo pháp luật của công ty không hưởng thù lao đại diện.
Đại diện theo ủy quyền. Ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác của quan hệ dân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có thể tham gia vào các giao dịch dân sự một cách thuận lợi nhất, bảo đảm thỏa mãn nhanh chóng các lợi ích vật chất, tinh thần mà chủ thể quan tâm. Đối với hình thức đại diện theo ủy quyền thì đây là hình thức đại diện được xác lập giữa người đại diện và người được đại diện. Hình thức đại diện theo ủy quyền, theo quy định của BLDS 2015.
“Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.” Đại diện theo ủy quyền là trường hợp quan hệ đại diện 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được xác lập theo ý chí của hai bên. Do vậy, cả người đại diện và người được đại diện đều phải có năng lực hành vi dân sự. Hai bên biểu hiện tự do ý chí thông qua một hợp đồng ủy quyền hoặc một giấy ủy quyền. Một số đặc điểm cơ bản về người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp như sau: Thứ nhất: Người đại diện theo ủy quyền của công ty là người được người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ủy quyền để thực hiện một hoặc một số quyền và nghĩa vụ nhất định.
Người đại diện theo ủy quyền của công ty không có quyền đương nhiên nhân danh công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ mà chỉ được nhân danh công ty trong phạm vi ủy quyền và có nghĩa vụ nói rõ việc ủy quyền đó trong các giao dịch. Thứ hai: Người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiêp không đương nhiên được ủy quyền lại cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện cho doanh nghiệp mà mình đã được ủy quyền, trừ trường hợp được người ủy quyền đồng ý. Thứ ba: Người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp được hưởng thù lao đại diện. Vai trò người đại diện trong doanh nghiệp.
Vai trò của người đại diện theo pháp luật Người đại diện theo pháp luật là một cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp.