Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và sau khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), việc xây dựng lực lượng lao động kỹ thuật tay nghề cao đã trở thành yêu cầu sống còn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mặc dù nền kinh tế duy trì mức tăng trưởng GDP bình quân trên 7%/năm trong giai đoạn 2001-2008, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chỉ đạt 3,79 trên thang điểm 10 theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, đứng thứ 11 trong tổng số 12 quốc gia châu Á được khảo sát. Thực trạng "thừa thầy thiếu thợ" và cơ cấu lao động mất cân đối nghiêm trọng đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện thể chế pháp lý điều chỉnh hoạt động giáo dục nghề nghiệp.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật của tác giả Trần Thị Thu Hà (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội) tập trung nghiên cứu toàn diện hệ thống pháp luật về dạy nghề tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của công trình là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng 10 năm thi hành Luật Dạy nghề năm 2006 và phân tích những điểm đổi mới của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, từ đó đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả trong thực tiễn.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các quy định pháp luật và dữ liệu thực thi trên phạm vi toàn quốc giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016. Đóng góp của luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở luận cứ nhằm nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề (đạt mốc 30% năm 2010), bảo đảm trên 80% học viên tốt nghiệp làm việc đúng chuyên ngành và trực tiếp giải quyết bài toán hơn 720.000 cử nhân thất nghiệp được ghi nhận vào tháng 3/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, nhấn mạnh vai trò quyết định của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Vốn con người (Human Capital Theory) và Lý thuyết Phân công lao động xã hội trong nền kinh tế thị trường, kết hợp chặt chẽ với các quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Mô hình nghiên cứu phân tích cơ chế điều chỉnh pháp luật thông qua mối quan hệ tương tác đa chiều giữa ba chủ thể: Nhà nước (quản lý, ban hành thể chế), Cơ sở giáo dục nghề nghiệp (cung ứng dịch vụ đào tạo) và Doanh nghiệp cùng Người học (sử dụng và tiếp nhận kỹ năng nghề). Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm cốt lõi:

  • Dạy nghề và Đào tạo nghề nghiệp: Hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cho người học để tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm.
  • Pháp luật về dạy nghề: Hệ thống quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
  • Phân luồng nghề nghiệp: Cơ chế định hướng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông vào các bậc đào tạo kỹ thuật phù hợp với năng lực cá nhân và nhu cầu xã hội.
  • Tự chủ cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Quyền tự quyết định của nhà trường trong tuyển sinh, tài chính, nhân sự và phát triển chương trình đào tạo.
  • Kiểm định chất lượng dạy nghề: Quy trình đánh giá, công nhận mức độ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng của cơ sở và chương trình đào tạo theo chuẩn quốc gia và quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu pháp lý sơ cấp gồm Luật Dạy nghề năm 2006, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Bộ luật Lao động năm 2012 và các quyết định, thông tư hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Dạy nghề và Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam trong giai đoạn 10 năm (2006 - 2016).

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Hệ thống hóa các quy phạm pháp luật và đánh giá các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa tác động đến thể chế dạy nghề.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định giữa Luật Dạy nghề năm 2006 và Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, so sánh cơ cấu nhân lực Việt Nam với chuẩn mực quốc tế.
  • Phương pháp thống kê xã hội học: Khảo sát dữ liệu thứ cấp với cỡ mẫu 217 học sinh trung học cơ sở tại 5 cơ sở dạy nghề và 337 cán bộ quản lý, giáo viên, chuyên gia doanh nghiệp theo phương pháp chọn mẫu phân tầng.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm bảo đảm tính khách quan, đa chiều, giúp nhận diện chính xác khoảng cách giữa quy định pháp luật trên văn bản và hiệu quả thi hành trong thực tiễn xã hội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thể chế pháp lý đã tạo chuyển biến tích cực trong quy mô đào tạo và chuẩn hóa hệ thống văn bằng. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 đã thống nhất 3 cấp trình độ (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng), xóa bỏ sự chồng chéo quản lý giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy mô tuyển sinh năm 2011 đạt hơn 1,77 triệu học sinh, sinh viên, tăng 1,3 lần so với năm 2006. Trong giai đoạn 2007-2011, hệ thống đã tuyển mới gần 1,35 triệu người học cao đẳng, trung cấp nghề và hơn 6,85 triệu người học sơ cấp nghề, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên mức 30% vào năm 2010.

Thứ hai, thời gian và phương thức đào tạo được đổi mới linh hoạt theo hướng mở. Việc rút ngắn thời gian đào tạo trung cấp cho học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở xuống còn 1 đến 2 năm nhận được sự đồng thuận cao từ 85,3% cán bộ quản lý và chuyên gia được khảo sát. Phương thức đào tạo theo tích lũy mô-đun và tín chỉ tạo điều kiện cho người học rút ngắn thời gian và học liên thông thuận lợi. Danh mục nghề được mở rộng với 386 nghề trình độ cao đẳng, 462 nghề trình độ trung cấp và 195 bộ chương trình khung chuẩn hóa.

Thứ ba, sự mất cân đối nghiêm trọng trong phân luồng học sinh và cơ cấu nhân lực xã hội. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở lên học trung học phổ thông tăng vọt từ 40,27% (năm học 1990-1991) lên 80,36% (năm học 2011-2012). Ngược lại, tỷ lệ vào trung cấp chuyên nghiệp chỉ đạt 1,8% và vào học nghề chỉ đạt 2,5% (năm học 2007-2008). Cơ cấu trình độ nhân lực của Việt Nam năm 2012 suy giảm xuống mức 1 đại học - 0,43 trung cấp - 0,56 công nhân kỹ thuật, lệch pha hoàn toàn so với tỷ lệ chuẩn của các nước công nghiệp là 1 - 4 - 10, dẫn đến thực trạng hơn 720.000 cử nhân thất nghiệp vào tháng 3/2014.

Thứ tư, công tác kiểm định chất lượng và xã hội hóa dạy nghề còn gặp điểm nghẽn lớn. Toàn quốc mới kiểm định được 112 cơ sở trong tổng số 1.285 trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm dạy nghề (chiếm tỷ lệ 8,72%). Tốc độ kiểm định chỉ đạt 40 đến 60 cơ sở mỗi năm do thiếu vắng các tổ chức kiểm định độc lập ngoài công lập.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  BIẾN ĐỘNG CƠ CẤU NHÂN LỰC VIỆT NAM                      |
|                  (Tỷ lệ: Đại học / Trung cấp / Công nhân)               |
+-------------------------------------------------------------------------+
| Năm 1979:               [1.00] === [2.25] ======= [7.10]                |
| Năm 2006:               [1.00] = [1.17] = [0.91]                        |
| Năm 2012:               [1.00] - [0.43] - [0.56]                        |
| Chuẩn nước công nghiệp: [1.00] ==== [4.00] ========== [10.00]           |
+-------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng "thừa thầy thiếu thợ" xuất phát từ tâm lý coi trọng bằng cấp đại học trong văn hóa xã hội, cùng với sự thiếu đồng bộ trong cơ chế phân luồng học sinh sau trung học. Mặc dù các quy định ưu đãi người học đã được ban hành, mức hỗ trợ tài chính và cơ hội việc làm chưa đủ sức hấp dẫn để chuyển hướng lựa chọn của phụ huynh và học sinh.

Khi so sánh với các nghiên cứu của tác giả Bùi Đức Tùng (năm 2007) về quản lý nhà nước dạy nghề hay Vũ Thị Hương (năm 2013) về đào tạo nghề trong doanh nghiệp, luận văn đã khẳng định tính tất yếu của việc mở rộng quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp và thể chế hóa trách nhiệm của doanh nghiệp. Việc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phê duyệt 26 nghề trọng điểm cấp quốc tế, 49 nghề cấp khu vực ASEAN và 107 nghề cấp quốc gia theo Quyết định số 826/QĐ-LĐTBXH là bước đi chiến lược, bảo đảm trên 80% người học được sử dụng đúng chuyên ngành sau tốt nghiệp. Dữ liệu thực trạng có thể được hệ thống hóa qua bảng so sánh tiến độ kiểm định và biểu đồ phân luồng học sinh nhằm làm rõ sự cần thiết của các tổ chức kiểm định độc lập.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật về dạy nghề, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện thể chế phân luồng và định hướng nghề nghiệp: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng quy chế liên thông và chính sách miễn giảm học phí toàn diện cho học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở học thẳng lên trung cấp nghề. Mục tiêu đạt tỷ lệ phân luồng từ 30% đến 35% học sinh sau trung học cơ sở vào hệ thống giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2016-2020.
  2. Thúc đẩy cơ chế gắn kết bắt buộc giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp: Bộ Tài chính cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoàn thiện khung chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn tiền thuê đất cho các dự án hợp tác dạy nghề. Mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp tham gia xây dựng chuẩn đầu ra và đặt hàng đào tạo trực tiếp lên mức trên 50% vào năm 2020.
  3. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp: Tổng cục Dạy nghề ban hành quy chế cấp phép cho các trung tâm kiểm định độc lập của khu vực tư nhân và quốc tế, đào tạo bổ sung hơn 1.000 kiểm định viên đạt chuẩn. Mục tiêu nâng tỷ lệ cơ sở đào tạo được kiểm định chất lượng từ 8,72% lên tối thiểu 40% trong giai đoạn 2017-2020.
  4. Chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và chương trình đào tạo theo chuẩn ASEAN: Các trường cao đẳng, trung cấp nghề tập trung bồi dưỡng năng lực thực hành và chứng chỉ tiếng Anh quốc tế (chuẩn TOEIC) cho 100% giảng viên giảng dạy 26 nghề trọng điểm quốc tế và 49 nghề trọng điểm khu vực ASEAN trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao đối với 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cán bộ thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố và Vụ Pháp chế có thể sử dụng các luận cứ trong luận văn để soạn thảo các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014.
  • Ban giám hiệu và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Lãnh đạo các trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm giáo dục nghề nghiệp khai thác mô hình đào tạo theo tín chỉ, quy trình tự kiểm định chất lượng và phương thức xác định chỉ tiêu tuyển sinh tự chủ.
  • Doanh nghiệp và hiệp hội người sử dụng lao động: Bộ phận nhân sự (HR) và lãnh đạo doanh nghiệp nắm bắt các quy định pháp lý về hợp đồng đào tạo nghề, quyền lợi miễn giảm thuế và cơ chế hợp tác mở lớp đào tạo tại nơi làm việc theo Bộ luật Lao động năm 2012.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Luật học, Khoa học Giáo dục và Quản lý công sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo học thuật về thể chế quản lý nhà nước đối với thị trường lao động và nhân lực kỹ thuật.

Câu hỏi thường gặp

Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 có điểm gì đột phá so với Luật Dạy nghề năm 2006?
Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 đã hợp nhất hệ thống dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp thành 3 cấp trình độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng. Đồng thời, luật trao quyền tự chủ toàn diện cho cơ sở đào tạo trong tuyển sinh, xây dựng chương trình theo tín chỉ và mở rộng cơ chế kiểm định chất lượng cho khu vực tư nhân.

Tại sao cơ cấu nhân lực tại Việt Nam rơi vào tình trạng nghịch lý "thừa thầy thiếu thợ"?
Do tâm lý sính bằng cấp đại học và phân luồng chưa hiệu quả, tỷ lệ học sinh thi đại học chiếm tới 80% trong khi chỉ khoảng 10% học nghề. Năm 2012, cơ cấu nhân lực đạt tỷ lệ 1 đại học - 0,43 trung cấp - 0,56 công nhân kỹ thuật, trái ngược chuẩn 1 - 4 - 10 của các nước công nghiệp, gây ra tình trạng hơn 720.000 cử nhân thất nghiệp năm 2014.

Thời gian đào tạo trung cấp nghề cho người tốt nghiệp trung học cơ sở được quy định thế nào?
Theo quy định mới, thời gian đào tạo trung cấp theo niên chế đối với người tốt nghiệp trung học cơ sở được rút ngắn còn từ 1 đến 2 năm tùy ngành nghề (giảm so với mức 3-4 năm trước đây do không bắt buộc học văn hóa nếu người học chỉ có nhu cầu học kỹ năng nghề để đi làm ngay).

Doanh nghiệp được hưởng những ưu đãi pháp lý nào khi tham gia hoạt động dạy nghề?
Doanh nghiệp tham gia dạy nghề được giao đất, thuê đất đã giải phóng mặt bằng, hưởng mức thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, được tham gia cung cấp dịch vụ công do Nhà nước tài trợ, đặt hàng và tự tuyển người vào học nghề làm việc cho mình mà không phải đăng ký hoạt động dạy nghề.

Thực trạng kiểm định chất lượng dạy nghề tại Việt Nam đối mặt với thách thức gì?
Tính đến năm 2016, toàn quốc mới kiểm định được 112/1.285 cơ sở dạy nghề (đạt 8,72%). Nguyên nhân do quy định cũ giới hạn việc kiểm định chỉ thuộc về cơ quan nhà nước với công suất 40-60 trường/năm, đòi hỏi phải nhanh chóng xã hội hóa cho các tổ chức kiểm định độc lập.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về pháp luật dạy nghề, khẳng định đào tạo nghề nghiệp là bộ phận cấu thành bình đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
  • Đánh giá thực tiễn 10 năm thi hành Luật Dạy nghề năm 2006, chỉ rõ thành tựu tuyển sinh đạt hơn 1,77 triệu người năm 2011 cùng những rào cản về cơ cấu nhân lực lệch lạc 1 - 0,43 - 0,56.
  • Làm sáng tỏ các điểm mới mang tính bước ngoặt của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 về thống nhất 3 cấp trình độ và mở rộng quyền tự chủ nhà trường.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn kết doanh nghiệp, hoàn thiện phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và nâng cao tỷ lệ kiểm định chất lượng cơ sở dạy nghề đạt trên 40% đến năm 2020.
  • Định hướng hành động tiếp theo yêu cầu các bộ, ngành sớm ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết, biến các quy định pháp luật thành động lực nâng cao năng suất lao động quốc gia.

Các nhà quản lý giáo dục, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp luận văn tại Thư viện Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội để nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn quản trị.