LỜI MỞ ĐẦU Trái đất dang dan nóng lên là van dé quan tâm của toàn cầu. Methane (CH¿) va carbon dioxide (CO2) là hai thành phan khí gây hiệu ứng nhà kính. Hơn nữa, việc sản xuất và phát thải các khí này được dự đoán là sẽ gia tăng trong thời gian tới, nồng độ CO, trong không khí tăng khoảng 1,5 ppm mỗi năm. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu các phản ứng đê chuyên hóa các khí CH¿ va CO.
Việc chuyển hóa CH, và CO; thành các sản phẩm có giá trị cao vẫn còn là một thách thức lớn do các hợp chất này tương đối không hoạt động. Hướng chuyển đổi các khí này thành khí tong hợp là một lựa chọn kha thi. Khí tong hop la mot hỗn hợp cua carbon monoxide (CO) va hydro (H;), có thé str dung như một chất trung gian dé san xuất các hóa chất có giá trị cao như methanol hay các sản phẩm nhiên liệu thông qua quá trình Fischer — Tropsch cũng như sản xuất H; dé phục vụ cho nhiều quá trình hóa học khác. Dé điều chế khí tong hop từ CH, va CO, có nhiều phản ứng như: reforming hoi nước (steam reforming), oxy hóa một phan hay refrorming khô (dry reforming).
Các phan ứng reforming hơi nước va oxy hóa một phan đều sử dung nguyên liệu chỉ có thành phan CH, mà không có CO. Trong khi đó, việc sản xuất khí tong hợp chủ yếu sử dụng nguồn nguyên liệu là khí tự nhiên có thành phan chính là CH, nhưng dong thời cũng chứa một lượng không nhỏ khí CO;. Do đó, nhu cầu cần nghiên cứu một phản ứng dé có thé sử dụng nguồn nguyên liệu là khí tự nhiên mà không cần loại bỏ CO, mang lại lợi ích cả về mặt kinh tế lẫn môi trường. Van dé này dẫn đến xu hướng nghiên cứu phản ứng reforming khô.
Xúc tác cho phản ứng reforming khô CH, được phát triển dựa trên các kim loại quý như Ru, Rh, Pd, Pt nhưng các nghiên cứu gần đây chủ yếu phát triển dựa trên Ni do Ni có hoạt tính cao và cạnh tranh hơn về mặt kinh tế. Các nghiên cứu cho thay rang việc chuyển hóa trực tiếp CH, và CO, thành khí tong hợp đòi hỏi xúc tác phải hoạt động ở Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Trọng Tiến nhiệt độ cao nên dẫn đến nhiều chất xúc tác không ôn định, biến đối cấu trúc, thiêu kết các kim loại hoạt động và tạo thành cốc trên bề mặt xúc tác. Những nguyên nhân này làm cho xúc tác mat hoạt tính nhanh chóng. Đề khắc phục vấn đề này, độ ôn định của xúc tác là yêu tổ quan trọng.
Những chất mang có cấu trúc bền và ôn định ở nhiệt độ cao (như ơ-AlzOa) sẽ hạn chế được những ảnh hưởng về điều kiện phản ứng qua đó giúp hoạt tính xúc tác ôn định hơn. Do đó, van dé tìm hiểu các chất mang hợp lý hoặc biến tính xúc tác với kim loại thứ hai nhằm hỗ trợ cho Ni trong phản ứng reforming khô CH, đang thu hút được sự quan tâm. Bién tính xúc tác để đạt được các mục tiêu: đạt được sự 6n định nhiệt của chất mang, kháng thiêu kết đối với các tâm kim loại hoạt động và hạn chế việc hình thành cốc hình thành trên bề mặt xúc tác dé tăng độ bên của xúc tác. Vẫn dé này dang được quan tâm nghiên cứu.
Cùng với xu hướng này, trong phạm vi dé tài này phản ứng reforming khô CH, trên xúc tác Ni/œ-AlzOs biến tinh MgO va CeO, được nghiên cứu với các mục tiêu: (1) Đưa ra thành phần tối ưu của xúc tác Ni/œ-AlzOs biến tính băng MgO và CeO, (được điều chế bằng phương pháp tâm đồng thời) cho phản ứng reforming khô CHa. (2) Đưa ra điều kiện tối ưu cho phản ứng reforming khô trên các xúc tác. (3) Đánh giá hoạt tính và độ bền của các xúc tác làm sáng tỏ vai trò phụ gia MgO và CeO, trong việc tăng hoạt tính cũng như độ bên của xúc tác Ni/œ-AlaOa. Đề thực hiện được các mục tiêu trên thì nội dung nghiên cứu cụ thể của đề tài như sau: (1) Điều chế các xúc tác với ty lệ Ni/œ-AlaOs biến tinh MgO va CeO, với hàm lượng khác nhau.
Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Trọng Tiến (3) Khảo sát hoạt tính của các xúc tác trong phản ứng reforming khô CH¿ ở các nhiệt độ khác nhau (với tỷ lệ nhập liệu COz/CH¡¿ là 1/1) dé tìm xúc tác tối ưu. (4) Khảo sát các hoạt tính xúc tác biến tính tối ưu và xúc tác chưa biến tính trong phan ứng reforming khô CH, với nhiệt độ phản ứng và tỷ lệ nhập liệu COz/CH¿ khác nhau dé xác định điều kiện phản ứng tối ưu. (5) Khảo sát độ bền của các xúc tác N/œ-AlzOa chưa biến tính và biến tính tối ưu ở điều kiện phản ứng tối ưu. (6) Khảo sát quá trình oxy hóa các xúc tác (sau khi khảo sát độ bền) theo chương trình nhiệt độ làm sáng tỏ ảnh hưởng của phụ gia trong tạo cốc và tăng độ bền của các xúc tac.
Luận văn này được thực hiện tại Phòng Dầu khí - Xúc tác, Viện Công nghệ Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Trọng Tiến CHUONG 2: TONG QUAN 2. Anh hướng cua CH, va CO, đến môi trường Các khí nhà kính là nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng nhiệt độ Trái đất và gây ra các van dé về biến đối khí hậu trên toàn cầu [1, 2]. Biến doi khí hậu gây nên những tác động tiêu cực đến con người và các nguôn tài nguyên thiên nhiên và ảnh hưởng trực tiếp đến nên kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới [3-5].
Các khí gây hiệu ứng nhà kính có ảnh hưởng lớn có thé kế đến là hơi nước, CO», CH, và NO. Trong đó, CH¿ và CO; được cho là hai khí tác động mạnh nhất trong việc gia tăng nhiệt độ toàn cầu [6]. Đi cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp là nhu cau tiêu thụ năng lượng cũng gia tăng nhanh chóng, việc tiêu thụ năng lượng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự gia tăng của COs. Bat chấp những nỗ lực để giảm thiểu khí thải CO, trong các thập kỷ qua sự gia tăng của CO; là hơn 100% mỗi năm và đã vượt qua 32 tỷ tan trong nam 2011 [7].
Luong phat thai CO, toan cau sé tiép tuc gia tang, du kiến sẽ đạt 36 tỷ tan vào năm 2020 [8] và sẽ tăng gấp đôi vào năm 2050 [9] nếu các biện pháp giảm thiêu CO, không mang lại hiệu quả. Bên cạnh CO>, CH, cũng được xem là một khí nhà kính nguy hiểm. CH, là thành phan chính của khí tự nhiên có trữ lượng rất lớn nhưng do hạn chế về công nghệ trong việc hóa lỏng và sử dụng khí tự nhiên dẫn đến một lượng lớn CH, được thải vào môi trường [10]. Ngoài ra, CH, còn được hình thành từ các ao hồ, dam lay, bãi rác, các nhà máy xử lý nước thải hay đến từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp [11].
Mặc dù lượng khí CH, thải ra ít hơn so với CO» (chỉ chiếm khoảng 14% lượng khí nhà kính) nhưng kha năng gây biến đổi khí hậu của CH, gấp 25 lần so với CO; [11, 12]. Có thé thay răng tác hại của CH¿ và CO; là rat lớn, do đó việc nghiên cứu chuyển đổi các khí này thành các sản phẩm có giá trị vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế vừa mang lại lợi ích về mặt môi trường. Lựa chọn chuyển hóa CH, và CO; thành khí tổng hợp là một lựa chọn khả thi. Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Trọng Tiến 2.
Các quá trình sản xuất khí tổng hợp Khí tong hợp là hỗn hợp khí của H; và CO. Tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu, phương pháp sản xuất và mục đích sử dụng mà tỷ lệ H;/CO trong hỗn hợp khí thay đổi. Khí tổng hợp được biết đến là nguồn nguyên liệu quan trọng cho nhiều quá trình hóa học như sản xuất ammonia, methanol hay tong hợp nhiên liệu thông qua quá trình Fischer — Tropsch [13]. Trong chiến tranh thế giới thứ II, khí tổng hợp được sản xuất bằng phương pháp khí hóa than để sản xuất các hydrocarbon lỏng.
Công nghệ khí hóa than hiện nay hầu như ít được ứng dụng vì giá thành sản phẩm cao và công nghệ này chỉ còn được sử dụng ở các quôc gia có nguôn than đá doi dào. Ngoài công nghệ khí hóa than còn hai phương pháp được sử dụng nhiều để sản xuất khí tổng hợp là reforming hơi nước hoặc oxy hóa không hoàn toàn khí tự nhiên và các sản phẩm dầu mỏ. Phương phúp reforming hoi nước Reforming hơi nước áp dụng hiệu quả và kinh tế nhất khi sử dụng nguyên liệu là khí tự nhiên. Phản ứng reforming hơi nước đã được thương mại hóa, được phát triển đầu tiên bởi công ty Standard Oil của New Jersey [14].
CH, + HO = CO + 3H, AH = 206 kJ.1) Phan ứng reforming hơi nước là phản ứng thu nhiệt va đòi hỏi cung cấp năng lượng đầu vào lớn. Đây là phản ứng để sản xuất H; từ khí tự nhiên cũng như sản xuất khí tong hop làm nguyên liệu cho các quá trình chuyén hóa thành methanol, amonia hay các quá trình chuyển hóa thành nhiên liệu. Với phản ứng này, ty lệ H;/CO trong sản phẩm thu được khi phản ứng đạt cân băng là 3/1. Chất xúc tác sử dụng cho quá trình này thường là các xúc tác dựa trên cơ sở Ni, vì chúng có hoạt tính cao, chi phí thấp và nguồn cung cấp Ni dỗi dào.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với phản ứng reforming hơi nước CH, là việc hình thành cốc trên bề mặt xúc tác do phản ứng diễn ra ở nhiệt độ cao [15]. Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Trọng Tiến Phương pháp reforming hơi nước cũng có thể áp dụng cho các phân đoạn hydrocarbon, tuy nhiên với mạch carbon càng dài thì phản ứng càng khó thực hiện và hiệu quả không cao. Khi khối lượng của hydrocarbon tăng thì tỷ lệ H;/CO trong sản phẩm giảm. Tỷ lệ này là 3 đối với nguyên liệu là methane; 2,5 đối với ethane; 2,1 đối với hepthane và nhỏ hơn 2 đối với các hydrocarbon nặng hơn.
Phân đoạn chủ yếu được sử dụng để sản xuất khí tổng hợp là phân đoạn naphtha. Quá trình reforming naphtha dựa trên ba phản ứng: reforming (2.3) và chuyển hóa CO (2.4): CaH›„„2 + nHạO = nCO + (2n+1)H> (2.2) CO + 3H; = CH, + HạO AH = -206 kJ.3) CO + HạO = CO; + H; AH = -41 kJ.mol” (24) Về mặt nhiệt động học, phản ứng reforming hơi nước với nguyên liệu là naphtha thích hợp ở nhiệt độ cao và áp suất thấp.