Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo điều tra từ Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), khoảng 20,48% dân số Việt Nam, tương đương hơn 17 triệu người, đang sử dụng nước giếng khoan trực tiếp cho sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên, sự xuất hiện tự nhiên của asen trong tầng chứa nước ngầm tại lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long đang tạo ra những rủi ro sức khỏe nghiêm trọng. Khảo sát diện rộng do Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Môi trường và Phát triển Bền vững (CETASD) phối hợp với Viện Khoa học và Công nghệ Nước Thụy Sĩ (Eawag) thực hiện trên 461 mẫu nước giếng khoan tại 15 tỉnh thành miền Bắc cho thấy nồng độ asen dao động rất lớn từ dưới 0,1 µg/L đến hơn 810 µg/L. Trong đó, khoảng 27% số mẫu vượt quá giới hạn khuyến cáo 10 µg/L của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và hơn 11% số mẫu vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 09:2008/BTNMT đối với nước ngầm là 50 µg/L. Điển hình tại tỉnh Hà Nam, có tới 50,2% trong tổng số 7.042 giếng khoan khảo sát bị nhiễm asen vượt ngưỡng 50 µg/L.

Về mặt độc tính sinh học, dạng asen hóa trị ba As(III) có khả năng gây độc cao gấp 50 lần so với asen hóa trị năm As(V) do cơ chế tấn công trực tiếp vào nhóm chức thiol (-SH) của protein và ức chế chu trình acid citric. Dù vậy, phần lớn các phương pháp quan trắc hiện nay như quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa chỉ xác định được asen tổng số, còn kỹ thuật sắc ký lỏng ghép nối khối phổ plasma (HPLC-ICP-MS) lại đòi hỏi trang thiết bị đắt đỏ và quy trình vận hành phức tạp. Trước thực trạng đó, đề tài tập trung nghiên cứu tối ưu hóa quy trình phân tích trực tiếp hợp phần As(III) trong nước ngầm bằng phương pháp điện di mao quản sử dụng detector đo độ dẫn không tiếp xúc kiểu tụ điện (CE-C4D). Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm trên các mẫu nước giếng khoan tại xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Kết quả đạt được mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp một giải pháp định lượng trực tiếp As(III) có độ nhạy cao, giới hạn định lượng thấp hơn ngưỡng quy chuẩn 50 µg/L, giúp tiết kiệm hơn 80% chi phí phân tích và tạo tiền đề chế tạo các thiết bị phân tích hiện trường cơ động.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu dựa trên nguyên lý phân tách ion của phương pháp điện di mao quản vùng (Capillary Zone Electrophoresis - CZE) kết hợp công nghệ detector đo độ dẫn không tiếp xúc kiểu tụ điện (Capacitively Coupled Contactless Conductivity Detection - C4D). Quá trình phân tách được chi phối bởi ba hiện tượng hóa lý cốt lõi:

Thứ nhất, cơ chế di chuyển điện di của các tiểu phân mang điện tích dưới tác dụng của điện trường ngoài có cường độ từ 10 kV đến 30 kV đặt dọc theo cột mao quản silica có đường kính trong 50 µm. Tốc độ di chuyển của ion tỷ lệ thuận với cường độ điện trường và độ linh động điện di, đồng thời phụ thuộc chặt chẽ vào kích thước, hình dạng và điện tích của ion trong dung dịch.

Thứ hai, hiện tượng dòng điện thẩm (Electroosmotic Flow - EOF) sinh ra từ sự phân ly của các nhóm silanol (Si-OH) trên bề mặt thành mao quản silica ở môi trường pH > 3, tạo ra lớp điện kép tích điện âm và kéo khối chất lỏng dịch chuyển theo dạng profin phẳng về phía cực âm. Dòng EOF phẳng giúp loại bỏ sự biến dạng tín hiệu dạng parabol thường thấy trong sắc ký áp suất cao, mang lại các pic sắc nét với độ phân giải vượt trội.

Thứ ba, nguyên lý phát hiện của khối cảm biến C4D gồm hai điện cực hình ống đặt cách nhau 1-5 mm bọc ngoài mao quản, sử dụng nguồn điện xoay chiều tần số cao để đo độ biến thiên độ dẫn điện của dung dịch khi dải ion As(III) đi qua mà không cần tiếp xúc vật lý trực tiếp với chất lỏng.

Về hóa học dạng tồn tại, asenat As(V) và asenit As(III) có các hằng số phân ly axit khác nhau. Axit asenơ H3AsO3 có pKa1 = 9,2; pKa2 = 12,3; pKa3 = 13,4. Khi điều chỉnh môi trường đệm điện di về vùng kiềm (pH từ 8,90 đến 9,60), H3AsO3 phân ly chủ yếu thành anion H2AsO3-, mang điện tích âm giúp dễ dàng phân tách và phát hiện trên hệ thống CE-C4D.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm bao gồm chuỗi dung dịch chuẩn As(III) pha từ muối natri meta-asenit NaAsO2 tinh khiết phân tích trong dải nồng độ từ 20 µg/L đến 150 µg/L và 15 mẫu nước ngầm thực tế thu thập ngẫu nhiên tại các giếng khoan hộ gia đình thuộc xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong giai đoạn 2012-2013.

Phương pháp chọn mẫu và bảo quản tuân thủ quy trình yếm khí nghiêm ngặt: mẫu nước được lấy trực tiếp tại miệng giếng không qua bể lắng, lọc nhanh qua màng lọc cellulose acetate kích thước lỗ 0,45 µm để loại bỏ huyền phù, sau đó sục khí nitơ liên tục nhằm ngăn chặn quá trình oxy hóa As(III) thành As(V) bởi oxy hòa tan và bảo quản lạnh ở 4°C trước khi phân tích.

Quy trình tiền xử lý mẫu loại trừ các ion cản trở được tối ưu hóa bằng cách: sử dụng nhựa trao đổi cation axit mạnh Wofatit KPS (dạng H+, kích thước hạt 16-50 mesh, liều lượng 10 g/L) để loại bỏ hoàn toàn hàm lượng bicacbonat (HCO3-) ở mức 50-1000 mg/L; đồng thời phối hợp thuốc thử 1,10-phenanthroline để tạo phức che chắn ion sắt Fe(II) (50-1000 mg/L), ngăn chặn hiện tượng As(III) bị hấp phụ hoặc đồng kết tủa trên hydroxit sắt.

Lý do lựa chọn phương pháp CE-C4D xuất phát từ ưu thế tiêu tốn thể tích mẫu cực nhỏ (vài nanolit), không cần sử dụng dung môi hữu cơ độc hại, chi phí hóa chất vận hành thấp và khả năng đo trực tiếp dạng ion vô cơ. Kỹ thuật bơm mẫu điện động học được áp dụng ở hiệu điện thế 4 kV trong 45 giây nhằm tập trung và làm giàu mẫu tại đầu cột mao quản. Độ đúng của phương pháp được kiểm chứng đối chứng song song với phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử kết hợp hệ tạo hydrua (HVG-AAS) trên thiết bị Shimadzu AAS-6800 sau khi cho mẫu đi qua cột tách nhôm silicat.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và tối ưu hóa hệ thống điện di mao quản CE-C4D để xác định As(III) đã mang lại các phát hiện khoa học quan trọng:

Hệ đệm điện di tối ưu: Trong các hệ đệm sinh học được khảo sát bao gồm CHES, CAPS, MOPS và MES, hệ đệm phối hợp giữa axit 2-morpholinoethanesulfonic (MES) và L-Arginine (Arg) bổ sung 0,5 mM chất hoạt động bề mặt hexadecyltrimethylamoni bromua (CTAB) ở pH 8,90 cho thấy hiệu quả phân tách vượt trội. Hệ đệm này duy trì độ dẫn điện thấp, giảm thiểu hiệu ứng nhiệt Jun và tạo đường nền cực kỳ ổn định.

Điều kiện pha mẫu và bơm mẫu: Việc pha loãng mẫu trong môi trường dung dịch L-Arginine 2 mM ở pH 9,60 đã tối ưu hóa tỷ lệ chuyển hóa H3AsO3 sang dạng anion H2AsO3-. Kỹ thuật nạp mẫu điện động học ở điện thế 4 kV với thời gian bơm 45 giây giúp nạp chọn lọc lượng ion lớn vào mao quản, làm tăng chiều cao pic tín hiệu của As(III) lên tới 320% so với phương pháp bơm xiphong hoặc bơm thủy động học truyền thống.

Hiệu quả loại bỏ nền mẫu: Sử dụng nhựa Wofatit KPS dạng H+ cho phép loại bỏ hơn 98% hàm lượng ion HCO3- ở dải nồng độ từ 50 mg/L đến 1000 mg/L, ngăn ngừa hiện tượng giãn rộng pic và trôi đường nền. Thuốc thử 1,10-phenanthroline khóa chặt 100% ion Fe(II) ở mức nồng độ 50-1000 mg/L, triệt tiêu hoàn toàn nguy cơ sai số do asen bị kết tủa kéo.

Thông số thẩm định phân tích: Phương pháp đạt độ tuyến tính tuyệt đối trong khoảng nồng độ từ 20 µg/L đến 150 µg/L với hệ số tương quan R2 = 0,9985. Giới hạn phát hiện (LOD) đạt 6,8 µg/L và giới hạn định lượng (LOQ) đạt 22,5 µg/L, thấp hơn 55% so với ngưỡng giới hạn cho phép 50 µg/L của tiêu chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT. Hiệu suất thu hồi theo phương pháp thêm chuẩn trên nền mẫu thực tế đạt từ 94,2% đến 103,5% với độ lệch chuẩn tương đối RSD < 4,8% trên 6 lần đo lặp lại.

Thảo luận kết quả

Cơ chế phân tách thành công của As(III) được giải thích bởi sự tương tác hiệp đồng giữa điện trường tách phân cực âm -15 kV và chất biến tính bề mặt CTAB. CTAB hấp phụ lên thành silica mang điện tích âm, điều chỉnh tốc độ dòng điện thẩm EOF về mức cân bằng tối ưu, giúp kéo giãn khoảng cách di chuyển giữa H2AsO3- và các anion nền vô cơ phổ biến như Cl-, SO42-, NO2-, PO43-. Nhờ đó, pic As(III) xuất hiện độc lập, cân đối và hoàn toàn không bị chồng lấn chỉ sau 5,8 phút điện di.

Về mặt trình bày dữ liệu, kết quả phân tích có thể được mô tả trực quan thông qua các giản đồ điện di (electropherogram) so sánh sự khác biệt rõ nét giữa tín hiệu trước và sau khi xử lý nền qua nhựa trao đổi ion, nơi pic nhiễu khổng lồ của bicacbonat bị triệt tiêu hoàn toàn. Biểu đồ đường chuẩn tuyến tính thể hiện mối quan hệ đồng biến chặt chẽ giữa chiều cao pic (đơn vị mV) và nồng độ As(III) (đơn vị µg/L). Bảng tổng hợp đối chiếu kết quả đo trên 15 mẫu nước giếng khoan thực tế tại xã Vạn Phúc giữa phương pháp CE-C4D và phương pháp tiêu chuẩn HVG-AAS cho thấy độ lệch kết quả giữa hai phương pháp luôn duy trì dưới 5,2%, chứng minh độ tin cậy tương đương của hệ thiết bị điện di mao quản.

Ý nghĩa học thuật nổi bật của nghiên cứu là đã khắc phục hoàn toàn nhược điểm của các công trình trước đây. Các nghiên cứu cũ thường phải dùng chất oxy hóa mạnh K2Cr2O7 để chuyển As(III) thành As(V) rồi tính hàm lượng gián tiếp qua phép trừ, dẫn đến sai số lớn khi mẫu có chứa asen hữu cơ và cho LOD lên tới 73 µg/L (không đạt tiêu chuẩn nước ngầm). Quy trình mới xác định trực tiếp As(III), rút ngắn 50% thời gian xử lý và đáp ứng đầy đủ yêu cầu kiểm soát chất lượng nước sinh hoạt.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, triển khai chế tạo thiết bị phân tích CE-C4D xách tay phục vụ quan trắc hiện trường: Trung tâm CETASD phối hợp với các đơn vị kỹ thuật cơ điện tử tích hợp khối nguồn cao áp mini, bơm vi lưu và detector C4D dạng module cầm tay nhằm rút ngắn thời gian phân tích xuống dưới 10 phút mỗi mẫu, hoàn thiện nguyên mẫu thử nghiệm trong giai đoạn 2024-2026.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình phân tích dạng asen vào hệ thống tiêu chuẩn quốc gia: Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Bộ Y tế cần bổ sung phương pháp CE-C4D vào danh mục phương pháp thử nghiệm chính thức của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước năm 2026, chuyển dịch từ kiểm soát asen tổng sang giám sát chuyên biệt tỷ lệ As(III)/As(V) trong nguồn nước ngầm khai thác.

Thứ ba, lắp đặt trạm xử lý nước tích hợp công nghệ trao đổi ion tại vùng ô nhiễm trọng điểm: Ủy ban nhân dân các tỉnh có mức độ ô nhiễm cao như Hà Nam, Hưng Yên và Hà Nội chỉ đạo Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn xây dựng hệ thống lọc kết hợp keo tụ sắt và nhựa trao đổi cation, hướng tới mục tiêu đưa hàm lượng asen trong nước sinh hoạt của 100% hộ dân về dưới mức 10 µg/L trong lộ trình 2025-2028.

Thứ tư, tổ chức đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật lấy mẫu yếm khí cho cán bộ môi trường địa phương: Chi cục Bảo vệ Môi trường các tỉnh tổ chức từ 10 đến 15 lớp tập huấn nghiệp vụ trong quý 3/2024 nhằm trang bị quy trình lọc màng 0,45 µm và sục khí nitơ bảo quản mẫu chuẩn xác, hạn chế tối đa sai số do chuyển hóa hóa học trong quá trình vận chuyển mẫu về phòng thí nghiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Hóa phân tích, Hóa môi trường: Tài liệu cung cấp cơ sở lý thuyết chuyên sâu về điện di mao quản vùng, kỹ thuật điều khiển dòng điện thẩm EOF bằng chất hoạt động bề mặt CTAB và nguyên lý vận hành detector C4D để phục vụ công tác giảng dạy và phát triển các đề tài phân tích dạng vết kim loại nặng.

Kỹ thuật viên và chuyên viên tại các phòng thí nghiệm quan trắc môi trường: Luận văn cung cấp quy trình thao tác chuẩn (SOP) chi tiết để định lượng As(III) trong nước ngầm với chi phí hóa chất tiêu hao giảm hơn 70% so với phương pháp HPLC-ICP-MS, dễ dàng ứng dụng trên các hệ máy điện di sẵn có.

Kỹ sư công nghệ môi trường và doanh nghiệp phát triển thiết bị phân tích: Nguồn tham khảo hữu ích về thông số cấu hình điện cực đo độ dẫn không tiếp xúc, phương pháp xử lý mẫu loại trừ ma trận ion cản trở nhằm thiết kế các hệ thống cảm biến đo nhanh chất lượng nước tự động.

Các nhà quản lý chính sách tài nguyên nước và y tế dự phòng: Cung cấp bằng chứng khoa học và số liệu thực chứng về thực trạng phân bố As(III) tại đồng bằng sông Hồng, làm cơ sở xây dựng các chương trình can thiệp giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm asen cho cộng đồng nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần phân tích riêng biệt hợp phần As(III) thay vì chỉ đo tổng lượng asen? As(III) có độc tính sinh học cao gấp khoảng 50 lần so với As(V) và có khả năng thâm nhập, liên kết phá hủy cấu trúc enzyme tế bào nhanh hơn nhiều. Việc chỉ đo asen tổng sẽ che lấp mức độ rủi ro độc chất thực tế, khiến các nhà quản lý đánh giá sai lệch mức độ an toàn của nguồn nước sinh hoạt.

Detector đo độ dẫn không tiếp xúc C4D có điểm gì vượt trội so với detector quang học UV-Vis? Detector C4D đo sự biến thiên độ dẫn mà không cần tiếp xúc dung dịch, giúp loại bỏ hoàn toàn hiện tượng bám bẩn hoặc ăn mòn điện cực. Khác với detector UV-Vis vốn đòi hỏi chất phân tích phải hấp thụ quang hoặc tạo dẫn xuất phức tạp, C4D phát hiện trực tiếp ion H2AsO3- với độ nhạy cao và chi phí chế tạo thấp hơn nhiều.

Làm thế nào để loại bỏ triệt để ảnh hưởng của bicacbonat và sắt trong mẫu nước ngầm? Nghiên cứu sử dụng nhựa trao đổi cation axit mạnh Wofatit KPS dạng H+ để loại bỏ hơn 98% ion HCO3- gây giãn rộng pic. Đồng thời, bổ sung thuốc thử 1,10-phenanthroline giúp tạo phức bền với ion Fe(II), ngăn chặn hoàn toàn sự kết tủa hydroxit sắt kéo theo asen ra khỏi dung dịch phân tích.

Kỹ thuật bơm mẫu điện động học giúp cải thiện độ nhạy của phương pháp như thế nào? Dưới tác dụng của điện thế 4 kV đặt trong 45 giây, các anion H2AsO3- di chuyển có định hướng vào đầu cột mao quản nhanh hơn dung môi nền, tạo ra hiệu ứng làm giàu mẫu trực tiếp tại đầu cột. Kỹ thuật này giúp tăng chiều cao pic As(III) lên tới 320% so với bơm thủy động học.

Độ tin cậy của phương pháp CE-C4D khi kiểm chứng với phương pháp chuẩn AAS đạt mức nào? Thử nghiệm đối chứng trên 15 mẫu nước ngầm thực tế tại xã Vạn Phúc cho thấy kết quả đo nồng độ As(III) giữa CE-C4D và phương pháp chuẩn HVG-AAS có độ lệch tương đối chỉ dưới 5,2%, chứng minh phương pháp CE-C4D hoàn toàn đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về độ đúng và độ lặp lại.

Kết luận

  • Xây dựng thành công quy trình phân tích trực tiếp hợp phần As(III) trong nước ngầm bằng kỹ thuật điện di mao quản kết hợp detector đo độ dẫn không tiếp xúc C4D trên hệ đệm MES - L-Arginine (pH 8,90).
  • Giải quyết trọn vẹn vấn đề can nhiễu ma trận phức tạp nhờ phối hợp nhựa trao đổi cation Wofatit KPS loại bỏ bicacbonat và 1,10-phenanthroline che chắn ion Fe(II).
  • Đạt các chỉ tiêu đo lường xuất sắc với giới hạn phát hiện LOD là 6,8 µg/L và giới hạn định lượng LOQ là 22,5 µg/L, thỏa mãn tiêu chuẩn kiểm soát 50 µg/L theo QCVN 09:2008/BTNMT.
  • Xác nhận độ tin cậy cao trên 15 mẫu nước ngầm thực tế tại xã Vạn Phúc (Thanh Trì, Hà Nội) với sai số so sánh với phương pháp chuẩn HVG-AAS duy trì dưới 5,2%.
  • Mở ra hướng đi mới trong việc tối ưu hóa chi phí quan trắc môi trường và phát triển hệ thiết bị phân tích asen cơ động phục vụ đời sống dân sinh.

Về kế hoạch phát triển tiếp theo, nhóm nghiên cứu dự kiến hoàn thiện bộ kít tiền xử lý mẫu nước ngầm nhanh trong quý 4/2024 và mở rộng thử nghiệm thiết bị CE-C4D xách tay tại 50 điểm giếng khoan nông thôn trong năm 2025. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ môi trường và đơn vị xét nghiệm hãy chủ động liên hệ hợp tác để tiếp nhận chuyển giao quy trình kỹ thuật CE-C4D tiên tiến này, chung tay bảo vệ an toàn nguồn nước cho hàng triệu người dân Việt Nam.