MỞ ĐẦU Hiện nay, ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng và đang là một vấn đề cấp thiết được toàn thế giới quan tâm. Sự ô nhiễm ngày càng gia tăng do tác động của thiên tai và do các hoạt động của con người. Việt Nam cũng là một trong những nước mà tình trạng ô nhiễm môi trường đang trở nên báo động, trong đó có tình trạng ô nhiễm bởi nguồn thuốc nhuộm không được xử lý. Cùng với sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác nhau sử dụng màu tổng hợp như giấy in, photo màu hay được thêm vào các sản phẩm dầu mỏ, đặc biệt là ngành công nghiệp dệt nhuộm thì một lượng lớn nước thải màu cũng được thải ra môi trường.
Thông thường, các chất có trong thuốc nhuộm không bám hết vào sợi vải trong quá trình nhuộm mà bao giờ cũng còn lại một lượng dư nhất định tồn tại trong nước thải. Đây chính là nguyên nhân làm cho nước thải dệt nhuộm có độ màu cao và nồng độ chất ô nhiễm lớn, nếu không được xử lý triệt để chúng sẽ gây ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm.Cụ thể là thuốc nhuộm gây nên rất nhiều bệnh hiểm nghèo đặc biệt là bệnh ung thư và gây nên đột biến. Do những ảnh hưởng xấu đến môi trường nên xử lý thuốc nhuộm đang là vấn đề được toàn xã hội rất quan tâm. Một số phương pháp xử lý nước thải từ các nhà máy dệt nhuộm được sử dụng hiện nay là phương pháp vật lý và hóa học thường không triệt để.
Loại màu và phân hủy thuốc nhuộm bằng con đường sinh học đang được quan tâm trong những năm gần đây vì công nghệ sinh học vừa mang lại hiệu quả kinh tế và rất thân thiện với môi trường. Trong các phương pháp xử lý màu thuốc nhuộm bằng vi sinh vật thì sử dụng hệ enzyme ngoại bào từ đại diện của hai ngành Basidomycota và Ascomycotanhư laccase, manganese peroxidase (MnP), lingnin peroxidase (LiP) đang được quan tâm bởi hiệu quả về cả kinh tế và môi trường. Những năm gần đây việc nghiên cứu sàng lọc để tiến tới sản xuất enzyme ngoại bào từ nấm đảm đã và đang được các nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu và giành được sự quan tâm đăc biệt là laccase. Các nguyên cứu tìm kiếm và khai thác 1 c Luận văn Thạc sĩ Sinh học Trần Thị Thu Hiền enzyme ngoại bào thuộc nhóm oxidoredase và peroxidase từ nấm đảm đã đạt được thành tựu cao.
Đã phát hiện trên 100 loại laccase có trọng lượng phân tử khác nhau với hoạt tính và tính chất khác nhau. Chúng có khả năng phá vỡ các liên kết trong các hợp chất hữu cơ hoặc xúc tác chuyển hóa chúng thành các chất ít độc hơn và các dạng dễ phân hủy hơn để tiến tới khoáng hóa hoàn toàn chất ô nhiễm. Laccase xuất hiện ở các loại thực vật bậc cao và nhiều nhất ở nấm lớn, có dải pH tối thích rộng và cũng có loại laccase có khả năng chịu nhiệt cao. Chúng có khả năng phân hủy phenol và các hợp chất của phenol.
Ngoài ra, laccase còn được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như khử độc và loại màu thuốc nhuộm và các màu khác do các ngành công nghiệp thải ra, xử lý nước thải, làm trắng giấy và có ứng dụng trong công nghệ thực phẩm, mỹ phẩm, công nghệ nano, dược phẩm v. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, đề tài “Phân lập, tuyển chọn và nghiên cứu một số đặc tính của chủng nấm đảm thu thập từ vƣờn quốc gia Bidoup - Núi Bà” đã được tiến hành. Luận văn bao gồm những nội dung chủ yếu sau: - Phân lập và sàng lọc các chủng nấm đảm có khả năng sinh laccase cao từ vườn quốc gia Bidoup- Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng; - Phân loại chủng nấm đã được chọn lọc có hoạt tính cao nhất bằng phương pháp truyền thống và xác định trình tự vùng ITS; - Nghiên cứu các điều kiện nuôi cấy phù hợp để chủng đã được chọn sinh tổng hợp laccase với hoạt tính cao; - Đánh giá khả năng loại màu một số thuốc nhuộm hoạt tính (tổng hợp và thương mại)bởi laccase thô thu được từ chủng nghiên cứu có và không có chất gắn kết. 2 c Luận văn Thạc sĩ Sinh học Trần Thị Thu Hiền CHƢƠNG I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đặc điểm tự nhiên của Vƣờn Quốc gia Bidoup – Núi Bà Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà là một trong hai mươi tám vườn quốc gia nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam. Khu vực Bidoup – Núi Bà thuộc địa giới hành chính Huyện Lạc Dương Tỉnh Lâm Đồng chiếm gần trọn cao nguyên Langbiang (còn gọi là cao nguyên Lâm Viên), cách thành phố Đà Lạt 50 km theo tỉnh lộ 273. Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà nằm trong tọa độ địa lý Từ 12 độ 00' 00” đến 12 độ 52' 00” vĩ độ Bắc và từ 108 độ 17'00” đến 108 độ 42' 00” kinh độ Đông. Địa hình núi trung bình và núi cao, chia cắt mạnh, độ cao phổ biến từ 1.
Ðịa hình thấp dần theo hướng Nam Bắc. Nhiệt độ trung bình năm là 18 0C. Lượng mưa trung bình 1.755 mm/năm, mùa khô lượng mưa chiếm khoảng 20%, mùa mưa lượng mưa chiếm khoảng 80%; số ngày mưa trung bình 170 ngày/năm. Số ngày có sương mù khoảng 80 ngày/năm, tập trung vào các tháng 2, 3, 4, 5.
Khu vực Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà là thượng nguồn của các hệ sông Krông-Knô, sông Ða Nhim, duy trì nguồn nước cho một loạt hồ của Ðà Lạt như: hồ Ðan Kia, hồ Ða Thiện, hồ Than Thở, hồ Xuân Hương. Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà là một mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới của Việt Nam đặc trưng cho vùng cao nguyên, là một địa điểm lý tưởng trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn và đa dạng sinh học. Đa dạng sinh học về loài thực vật: với khoảng 1.468 loài bao gồm họ Lan 250 loài; họ Cúc 78 loài; họ Ðậu 65 loài; họ Cỏ 58 loài; họ Cà phê 45 loài; họ Dẻ 41 loài; họ Thầu dầu 35 loài; họ Cói 33 loài; họ Hoa hồng 33 loài; họ Long não 29 loài; họ Dâu tằm 28 loài; họ Ðơn nem 25 loài; họ Bạc hà 22 loài; họ Ðỗ quyên 21 loài; họ Chè 21 loài… Đa dạng về nguồn gene: có nhiều nguồn gene quý hiếm và đặc hữu; riêng về đặc hữu hẹp đã thống kê được 91 loài: Thông tre, Thông đỏ, Du sam, Pơ mu Bách xanh, Thông hai lá dẹt, Thông 5 lá Ðà Lạt, Ðỉnh tùng, Hoàng đàn giả. Côm Bidoup, Chè gò đồng Bidoup, Lan Hoàng Thảo Ðà Lạt, Lan Hoàng thảo Lang Biang, Trà hoa Langbiang, 3 c Luận văn Thạc sĩ Sinh học Trần Thị Thu Hiền Chân chim Langbian, Cung nữ Langbian, 250 loài phong lan, cho hoa đẹp và quý, 9 loài Ðỗ quyên, 5 loài Thu hải đường, 6 loài Thích là các nguồn gen quý.
Đa dạng về loài động vật: Về thú: Bao gồm các họ: họ Cầy, họ Chuột, họ Khỉ, họ Mèo, họ Sóc cây, họ Chồn, họ Hươu nai, họ Gấu, họ Trâu bò, họ Nhím, họ Chuột chù, Chồn bay, họ Dơi quả, họ Cu li, họ Vươn, họ Chó, họ Lợn, họ Cheo cheo, họ Tê tê, họ Sóc bay, họ Dúi. Về Chim: họ Khướu, họ Trĩ , họ Cu cu, họ Chào mào, họ chim chích; đặc biệt có những loài đặc hữu hẹp như: Mi Langbian, Khướu đầu đen, Khướu má xám, Sẻ thông họng vàng. Về Bò sát: họ Rắn nước, họ Nhông, họ Rắn hổ, họ Tắc kè, họ Kỳ đà, họ Rùa núi, họ Thằn lằn bóng, họ Trăn, họ Rắn mống, họ Rắn lục, họ Ba ba. Về Ếch Nhái: có các họ: họ Ếch nhái, họ Nhái bầu, họ Cóc nhà, họ Ếch cây; … vv.
Tuy nhiên cho đến nay, các nghiên cứu về hệ nấm tại vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà còn ít, mới chỉ có đề tài điều tra, đánh giá, phân loại các loài nấm dưới tán rừng thông tập trung vào điều tra các loài nấm cộng sinh ngoại bào của ThS Tôn Thất Minh, còn hệ nấm ngoại sinh và các nhóm vi sinh khác chưa có một nghiên cứu cụ thể. Đặc biệt, với đặc điểm rừng cây tán lá rộng, độ che phủ cao, ẩm quanh năm thì hệ vi sinh vật nơi đây được kỳ vọng là khá đa dạng, cần được nghiên cứu và khai thác bền vững. Vì vậy đề tài mở ra một hướng nghiên cứu mới, vừa góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học cho Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, vừa đưa ra hướng khai thác hiệu quả hệ sinh thái rừng phục vụ cho việc phát triển kinh tế và môi trường bền vững. Giới thiệu về laccase Laccase (p–benzenediol: oxygen oxidoreductase, E.2 ) thuộc nhóm enzyme oxy hóa khử.
Trong phân tử có chứa 4 nguyên tử đồng có khả năng oxy hóa cơ chất sử dụng phân tử oxy làm chất nhận điện tử. Khác với phần lớn các enzyme khác, laccase có phổ cơ chất rất đa dạng, bao gồm diphenol, polyphenol, các dẫn xuất phenol, diamine, amine thơm, benzenethiol, PCB, dioxin và cả các hợp chất vô cơ như iot. Các loại laccase tách chiết từ các nguồn khác nhau thì khác nhau về khối lượng 4 c Luận văn Thạc sĩ Sinh học Trần Thị Thu Hiền phân tử, tính chất glycosyl hóa và tính chất động học. Trong những năm gần đây, laccase đặc biệt được quan tâm bởi các enzyme này có những ứng dụng hữu ích trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau trong xử lý khử độc bằng công nghệ phân hủy sinh học, dệt nhuộm, tổng hợp hữu cơ, thực phẩm, dược phẩm v.
Cấu trúc của phân tử laccase Một loài sinh vật có thể có nhiều dạng isozyme của laccase, các dạng isozyme này khác nhau về trình tự axit amin và một số tính chất về động học xúc tác. Nấm có thể tạo ra nhiều dạng isozyme laccase khác nhau cả về mức độ glycosyl hóa và cả thành phần các gốc cacbonhydrat. Loài nấm Trametes versicolor có 5 dạng isozyme chỉ khác nhau về thành phần cacbonhydrat, thành phần cacbonhydrat của chúng thay đổi từ 10-45% so với khối lượng của thành phần protein. Phân tử laccase thường là monomeric protein, chỉ một số là oligomeric protein, có khối lượng phân tử dao động trong khoảng 60-90 kDal.
Phần lớn laccase của nấm có bản chất là glycoprotein với hàm lượng cacbonhydrat chiếm khoảng 10-25% [35]. Ngoài ra còn có nhiều loại enzyme giống laccase (laccase-like). Tuy vậy, tất cả laccase đều giống nhau về cấu trúc trung tâm xúc tác với 4 nguyên tử đồng. Những nguyên tử đồng này được chia thành ba nhóm: Loại 1 (T1), loại 2 (T2) và loại 3 (T3), chúng khác nhau về tính chất hấp thụ ánh sáng và thế điện tử.