Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu hiện trạng và phân bố của loài mang muntiacus spp tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên tỉnh thanh hóa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay nghiên cứu hiện trạng và phân bố của loài mang muntiacus spp tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

133
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: ỔN QUAN VẤN ĐỀ NHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu Thú móng guốc trên Thế giới. Đặc điểm và hệ thống phân loại bộ móng guốc chẵn (Artiodactyla)

1.2. Tình trạng bảo tồn của thú MGC trên Thế giới

1.3. Nghiên cứu về giống Mang trên Thế giới. Tình hình nghiên cứu về thú MGC ở Việt Nam. Thành phần loài khu hệ thú MGC Việt Nam

1.4. Tình trạng bảo tồn của thú MGC ở Việt Nam

1.5. Một số đặc điểm về giống Mang ở Việt Nam

1.6. Loài Mang thường (Muntiacus muntjak)

1.7. Loài Mang pù hoạt (Muntiacus puhoatensis)

1.8. Loài Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis)

1.9. Loài Mang vũ quang (Muntiacus vuquangensis)

1.10. Tình hình nghiên cứu về Mang tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp phỏng vấn

2.4.2. Phương pháp điều tra theo tuyến

2.4.3. Điều tra theo điểm

2.4.4. Điều tra bằng bẫy ảnh

2.4.5. Phương pháp điều tra, phân chia sinh cảnh

2.4.6. Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Địa hình, địa mạo

3.1.3. Khí hậu, thủy văn

3.1.4. Địa chất, thổ nhưỡng

3.1.5. Tài nguyên rừng. Khu hệ thực vật

3.1.6. Các hệ sinh thái rừng đặc trưng

3.1.7. Thảm thực vật

3.1.8. Tính đa dạng về khu hệ thực vật

3.2. Khu hệ động vật

3.3. Điều kiện kinh tế - xã hội

3.3.1. Dân số, dân tộc

3.3.2. Phân bố dân cư

3.3.3. Các hoạt động kinh tế và sử dụng đất trong vùng

3.3.4. Sản xuất nông nghiệp

3.3.5. Sản xuất Lâm nghiệp

3.3.6. Y tế, giáo dục

3.3.7. Giao thông, đường điện

3.3.8. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

3.3.9. Khó khăn

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thành phần loài, hiện trạng các loài Mang tại KBT. Thành phần loài. Hiện trạng quần thể. Hiện trạng quần thể Mang thường, Hoẵng (Muntiacus muntjak)

4.2. Hiện trạng quần thể Mang pù hoạt (Muntiacus puhoatensis)

4.3. So sánh hiện trạng quần thể các loài thuộc giống Mang ở KBT với các khu vực khác. Phân bố và đặc điểm sinh cảnh sống của các loài Mang hiện có trong Khu BTTN Xuân Liên

4.4. Vùng phân bố của các loài Mang hiện có trong khu bảo tồn

4.5. Đặc điểm sinh cảnh sống của các loài Mang hiện có tại Khu BTTN Xuân Liên. Các mối đe dọa đến các loài Mang tại KBT

4.5.1. Săn bắt động vật hoang dã

4.5.2. Khai thác gỗ trái phép

4.5.3. Khai thác củi

4.5.4. Khai thác cây thuốc, lâm sản ngoài gỗ. Trình độ dân trí thấp và sự thiếu hiểu biết

4.5.5. Chăn thả gia súc tự do

4.5.6. Gia tăng dân số

4.5.7. Mở rộng các hoạt động xây dựng và giao thông

4.6. Mức độ tác động của các mối đe dọa tới 2 loài Mang tại KBT. Đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển các loài Mang tại KBT theo hướng bền vững

4.6.1. Giải pháp kỹ thuật

4.6.2. Bảo tồn nguyên vị (in-situ conservation)

4.6.3. Bảo tồn chuyển vị (ex-situ conservation)

4.6.4. Giải pháp về kinh tế - xã hội

4.6.5. Giải pháp về cơ chế, chính sách và thu hút nguồn vốn đầu tư

4.6.6. Tăng cường công tác thực thi pháp luật

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu loài Mang Muntiacus spp

Nghiên cứu về loài Mang Muntiacus spp. tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Khu bảo tồn này có diện tích lớn và là nơi sinh sống của nhiều loài động vật quý hiếm. Việc tìm hiểu về hiện trạng loàiphân bố của chúng sẽ giúp nâng cao nhận thức về bảo tồn và quản lý tài nguyên rừng.

1.1. Đặc điểm sinh học của loài Mang Muntiacus spp.

Loài Mang Muntiacus spp. có nhiều đặc điểm sinh học độc đáo, bao gồm kích thước nhỏ gọn và khả năng thích nghi với môi trường sống đa dạng. Chúng thường sống trong các khu rừng rậm và có chế độ ăn chủ yếu là thực vật.

1.2. Vai trò của loài Mang trong hệ sinh thái

Mang đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Chúng giúp phân tán hạt giống và duy trì sự đa dạng của thực vật trong khu vực sống của mình.

II. Thách thức trong bảo tồn loài Mang Muntiacus spp

Mặc dù Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên có nhiều tiềm năng, nhưng hiện trạng loài Mang đang gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như săn bắn trái phép, mất môi trường sống và sự gia tăng dân số đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quần thể loài này.

2.1. Nguy cơ tuyệt chủng do săn bắn

Săn bắn động vật hoang dã là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm số lượng loài Mang Muntiacus spp.. Nhiều cá thể bị săn bắt để lấy thịt và sừng, gây áp lực lớn lên quần thể.

2.2. Mất môi trường sống do khai thác rừng

Khai thác gỗ và phát triển nông nghiệp đã làm giảm diện tích rừng, dẫn đến mất môi trường sống cho loài Mang. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến số lượng mà còn đến sự đa dạng di truyền của chúng.

III. Phương pháp nghiên cứu hiện trạng loài Mang Muntiacus spp

Để đánh giá hiện trạng loài Mang, nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm điều tra hiện trường, phỏng vấn người dân và sử dụng bẫy ảnh. Những phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác về số lượng và phân bố của loài.

3.1. Phương pháp điều tra hiện trường

Điều tra hiện trường được thực hiện để ghi nhận dấu vết và quan sát trực tiếp các cá thể Mang Muntiacus spp.. Phương pháp này giúp xác định khu vực phân bố và tình trạng sức khỏe của quần thể.

3.2. Sử dụng bẫy ảnh trong nghiên cứu

Bẫy ảnh là một công cụ hiệu quả để theo dõi hoạt động và số lượng của loài Mang. Phương pháp này cho phép ghi lại hình ảnh của các cá thể mà không làm ảnh hưởng đến môi trường sống của chúng.

IV. Kết quả nghiên cứu về phân bố loài Mang Muntiacus spp

Kết quả nghiên cứu cho thấy phân bố loài Mang tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên rất đa dạng. Các khu vực rừng nguyên sinh và rừng phục hồi là nơi có mật độ loài cao nhất. Tuy nhiên, sự phân bố này cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường và con người.

4.1. Mật độ quần thể loài Mang tại các khu vực khác nhau

Mật độ quần thể loài Mang khác nhau giữa các khu vực trong Khu bảo tồn. Khu vực rừng nguyên sinh có mật độ cao hơn so với các khu vực bị khai thác.

4.2. Đặc điểm sinh cảnh sống của loài Mang

Loài Mang thường sống trong các khu rừng rậm, nơi có nhiều cây cối và nguồn thức ăn phong phú. Đặc điểm sinh cảnh này rất quan trọng cho sự sinh tồn và phát triển của chúng.

V. Giải pháp bảo tồn loài Mang Muntiacus spp

Để bảo tồn Mang Muntiacus spp., cần triển khai các giải pháp đồng bộ, bao gồm tăng cường quản lý bảo vệ rừng, nâng cao nhận thức cộng đồng và phát triển các chương trình bảo tồn bền vững.

5.1. Tăng cường quản lý bảo vệ rừng

Cần có các biện pháp quản lý chặt chẽ hơn để ngăn chặn tình trạng khai thác rừng trái phép và săn bắn động vật hoang dã. Việc này sẽ giúp bảo vệ môi trường sống cho loài Mang.

5.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn

Giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của loài Mang và các biện pháp bảo tồn là rất cần thiết. Các chương trình tuyên truyền có thể giúp giảm thiểu các hoạt động săn bắn và khai thác rừng.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai cho loài Mang Muntiacus spp

Nghiên cứu về Mang Muntiacus spp. tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên đã chỉ ra rằng, mặc dù có nhiều thách thức, nhưng vẫn có cơ hội để bảo tồn loài này. Việc thực hiện các giải pháp bảo tồn hiệu quả sẽ giúp duy trì quần thể và bảo vệ đa dạng sinh học trong khu vực.

6.1. Tầm quan trọng của bảo tồn loài Mang

Bảo tồn loài Mang không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh thái mà còn góp phần vào phát triển bền vững của khu vực. Chúng là biểu tượng cho sự đa dạng sinh học của Việt Nam.

6.2. Triển vọng cho các chương trình bảo tồn trong tương lai

Các chương trình bảo tồn cần được triển khai đồng bộ và có sự tham gia của cộng đồng địa phương. Điều này sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của loài Mang trong tương lai.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu hiện trạng và phân bố của loài mang muntiacus spp tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 T N QU N VẤN ĐỀ N H N C U6 1. Tình hình nghiên cứu Thú móng guốc trên Thế giới. Đặc điểm và hệ thống phân loại bộ móng guốc chẵn (Artiodactyla) Nhiều tác giả (Đặng Huy Huỳnh 1986 [22] Lekagul et al. 1988 [53], Hutchins et al.

2004 [51], Đặng Huy Huỳnh và cs. 2009 [26], Nguyễn Xuân Đặng và cs. 2009 [13], Đặng Huy Huỳnh và cs. 2008 [28]), thú MGC gồm các loài thú có kích thước cơ thể từ rất lớn tới trung bình.

Lớn nhất là Hà mã (Hippopotamus amphibius) nặng tới 4.500 kg và nhỏ nhất là Cheo cheo lưng bạc (Tragulus versicolor) nặng khoảng 1,5 - 2,5 kg. Các chân đều mang số ngón chẵn (2 hoặc 4 ngón) và có guốc. Thú MGC đi bằng đầu ngón chân thứ III và thứ IV nên các ngón này rất lớn và có kích thước gần bằng nhau. Ngón thứ nhất đã bị tiêu biến, ngón thứ II và thứ V bị tiêu giảm về kích thước.

Chỉ ở một số loài (họ Lợn Suidae) cả 4 ngón đều hoạt động, còn ở hầu hết các loài khác chỉ có 2 ngón (thứ III và IV) hoạt động, 2 ngón khác nhỏ và hầu như không chạm đất, trừ khi đất quá xốp. Thú MGC được chia thành 2 nhóm: nhóm có sừng và nhóm không có sừng. Nhóm không có sừng gồm các loài thuộc họ Cheo cheo (Tragulidae), họ Lợn (Suidae), họ Lợn Taya (Tayassuidae) và họ Hươu xạ (Moschidae). Các loài này có răng nanh phát triển dài để thực hiện chức năng bảo vệ thay cho sừng.

Nhóm có sừng bao gồm các họ còn lại. Tuy nhiên, kích thước và nguồn gốc sừng có khác nhau. Sừng của các loài họ Hươu nai (Cervidae) đặc và rụng hàng năm sau mỗi mùa động dục (còn gọi là gạc). Sừng của các loài họ Trâu bò (Bovidae) rỗng trong và không rụng, phát triển liên tục suốt đời.

Chức năng chủ yếu của sừng và răng nanh là làm vũ khí đấu tranh trong loài (tranh giành vị trí đầu đàn, tranh giành thú cái trong mùa động dục,.), sau đó mới đến chức năng chống lại thú ăn thịt hoặc các loài khác (Hutchins et al. Các cá thể đực thường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 có sừng hoặc răng nanh lớn hơn so với cá thể cái. Tùy loài, các cá thể cái có thể có sừng như ở họ Trâu bò hoặc không có sừng như ở họ Hươu nai. Bộ răng thích nghi với chế độ ăn của mỗi nhóm loài.

Lợn rừng có răng nanh trên rất dài, thò ra khỏi môi và mặt răng hàm có nhiều u, mấu nhỏ. Các loài nhai lại không có răng nanh trên, mặt răng hàm có nhiều gờ nhai sắc hình lưỡi liềm. Số lượng răng từ 32 - 44 chiếc. Tất cả các loài trong các họ Tragulidae, Moschidae, Cervidae và Bovidae đều không có răng cửa hàm trên.

Công thức răng: (i 0–3/3, c 0–1/1, pm 2–4/2–4, m 3/3) x 2 = 30–44. Thú MGC ăn thực vật và có dạ dày thích nghi với việc tiêu hóa chất xenluloza thực vật. Dạ dày được cấu tạo có 1 đến 3 ngăn, dạ dày giả nằm phía trước dạ dày thật (abomasum). Họ Lợn (Suidae) ăn tạp, dạ dày ít chuyên hoá, chỉ có 2 ngăn.

Các họ khác có dạ dày phức và ruột tịt nhỏ. Họ Cheo cheo (Traguliadae) có dạ dày 3 ngăn, các họ khác có dạ dày 4 ngăn. Trong dạ dày có hệ sinh vật và ký sinh trùng cộng sinh phong phú giúp phân hủy xeluloza. Đa số các loài có đặc điểm nhai lại thức ăn (Đặng Huy Huỳnh và cs, 1986 [22] và Lekagul B.

Theo Wilson và cộng sự (Wilson et al. 2005) [63], bộ móng guốc chẵn (Artiodactyla) có khoảng 240 loài thuộc 89 giống và 10 họ (Bảng 1.1: Thành phần loài bộ M C (Artiodactyla) trên thế giới TT Họ Số giống Số loài 1 Họ Lợn - Suidae 5 19 2 Họ Lợn Taya - Tayassuidae 3 3 3 Họ Hà mã - Hippopotamidae 2 2 4 Họ Lạc đà - Camelidae 3 4 5 Họ Cheo cheo - Tragulidae 3 8 6 Họ Hươu xạ - Moschidae 1 7 7 Họ Hươu nai - Cervidae 19 51 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 8 Họ Linh dương - Antilocapridae 1 1 9 Họ Hươu cao cổ - Giraffidae 2 2 10 Họ Trâu bò - Bovidae 50 143 Tổng 89 240 Một số tác giả (Simpson 1945, Mckenna et al 1997, Janis and Scott 1987, trong Lekagul et al. 1988) [53] chia bộ MGC thành 3 phân bộ: - Phân bộ Không nhai lại (Non-ruminantia) hoặc Phân bộ Lợn (Suina): Răng hàm có mấu, răng nanh lớn sinh trưởng liên tục, dạ dày đơn, ngón II và ngón V phát trển. Phân bộ này có 3 họ là họ Lợn (Suidae), Hà mã (Hippopotamidae) và họ Lợn Taia (Tayassuidae).

- Phân bộ Nhai lại (Ruminantia): Răng hàm có nếp sắc hình bán nguyệt, thiếu răng cửa và thường thiếu cả răng nanh. Dạ dày phức tạp chia 4 ngăn. Phân bộ này có 05 họ: họ Hươu nai (Cervidae), họ Hươu cao cổ (Giraffidae), họ Trâu bò (Bovidae), họ Cheo cheo (Tragulidae) và họ Linh dương (Antilocapridae). - Phân bộ Chân chai (Tylopoda): gồm các loài Lạc đà.

Thiếu răng nanh và răng cửa ở cả hai hàm, răng hàm có mặt nhai phẳng, dạ dày tương đối phức tạp. Ngón I, II và V thiếu. Chỉ có 1 họ Lạc đà (Camelidae) phân bố ở sa mạc Trung Á. Ba họ có số loài lớn nhất là: họ Trâu bò với 143 loài, họ Hươu nai với 51 loài và họ Lợn với 19 loài.

Các họ còn lại đều có dưới 10 loài. Wilson et al. Tình trạng bảo tồn của thú M C trên thế giới Các loài thú MGC có phân bố rộng trên thế giới. Chúng là loài bản địa ở tất cả các châu lục trừ châu Nam Cực, châu Úc và các đảo đại dương.

Ngày LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nay, do con người du nhập và thuần hóa nên các loài thú MGC có mặt cả ở nhiều đảo xa bờ không thuộc vùng phân bố tự nhiên của chúng (Hutchins et al. Tuy nhiên, do sự suy thoái sinh cảnh và săn bắt quá mức của con người, các loài thú MGC trên thế giới hiện nay đã bị suy giảm đáng kể cả về phạm vi phân bố và số lượng cá thể. Danh lục Đỏ IUCN (2015) [49] đã thống kê có 8 loài thú MGC đã bị tuyệt chủng và 122 loài khác (chiếm 54,6% tổng số loài hiện biết) đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau (Bảng 1.2): 11 loài ở mức "rất nguy cấp - CR", 40 loài ở mức "nguy cấp - EN", 33 loài ở mức "sẽ nguy cấp - VU", 20 loài ở mức "gần bị đe dọa – LR, nt" và 18 loài ở mức "thiếu dữ liệu - DD".2: Số lượng các loài thú M C bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu. Bậc đe dọa theo Danh lục Đỏ UCN* Tổng Tỷ lệ TT Họ EX EW CR EN VU LR,nt DD cộng (%) 1 Suidae 1 3 5 1 1 11 57,9 2 Tayassuidae 1 1 2 66,7 3 Hippopotamidae 1 1 2 100 4 Camelidae 1 1 25 5 Tragulidae 1 3 4 50,0 6 Moschidae 6 1 7 100 7 Cervidae 1 1 1 7 16 2 10 38 74,5 8 Antilocapridae 0 0 9 Giraffidae 1 1 50,0 10 Bovidae 4 1 8 20 19 17 4 73 51,0 Tổng cộng 6 2 11 40 33 20 18 131 54,6 Ghi chú: EX - tuyệt chủng, EW - tuyệt chủng trong thiên nhiên, CR - rất nguy cấp, EN - nguy cấp, VU - Sẽ nguy cấp, RL, nt - gần bị đe dọa, DD - thiếu dữ liệu.

*Nguồn: Danh lục Đỏ IUCN 2015. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Như vậy, có đến 54,6% tổng số loài thú MGC hiện biết đã tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu. Trừ họ Linh dương (Atilocapridae), tất cả các họ thú MGC đều có tỷ lệ phần trăm số loài bị đe dọa tuyệt chủng cao, từ 25% (Camelidae) đến 50-60% (Tragulidae, Girafidae, Bovidae, Suidae), 60 - 75% (Tayassuidae, Cervidae) và 100% (Hippopotamidae, Moschidae). Các họ có số loài bị đe dọa nhiều nhất là: Bovidae (73 loài), Cervidae (38 loài) và Suidae (11 loài).

Nghiên cứu về giống Mang trên Thế giới. Mang thuộc giống Muntiacus thuộc họ Hươu nai (Cervidae) là 1 trong 5 họ của Bộ Móng guốc chẵn (Artiodactyla) (Nguyễn Xuân Đặng và cs. Trên Thế giới đã ghi nhận giống Mang (Muntiacus) bao gồm 13 loài có vùng phân bố rộng từ Ấn Độ đến Inđônêsia [64]. Những loài thú có kính thước từ nhỏ đến trung bình này có nhiều đặc điểm khác biệt về kích thước, mầu sắc và kiều sừng giữa các loài.

Loài có kích thước lớn nhất là loài Mang lớn (M. Vuquangensis) có trọng lượng khoảng 30-50 kg trong khi loài Mang Putao (M. Putaoensis) chỉ nặng khoảng 12kg [31]. Giữa các loài Mang còn có sự khác biệt rất lớn về số lượng các nhiễm sắc thể, chẳng hạn như Mang Reeves (M.

reevesi) có 46 nhiễm sắc thể trong khi đó Hoẵng vó vàng (M. vaginalis) chỉ có 6 nhiễm sắc thể [33] [34]. Trong những năm gần đây số lượng loài của nhóm này đã tăng lên đáng kể do có nhiều điều tra và phát hiện mới ở vùng Đông Nam Á. Cụ thể là ở Việt Nam, trong vòng 15 năm trở lại đây, bốn loài Mang đã được tìm thấy ở Việt Nam hoặc dưới dạng loài mới hoặc được xác nhận là có ở trong nước [30] [24] [29].

Tất cả những loài này đều được phát hiện tại các khu rừng thường xanh vùng núi của dãy Trường Sơn [28] [31]. Những phát hiện này cùng với những thông tin trước đó về các loài đặc hữu của khu vực này, trong đó có chim, linh trưởng và cây lá kim cho thấy dãy Trường Sơn, một khu vực rất đáng quan tâm đối với bảo tồn và đã được đưa vào danh sách 200 khu hệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 sinh thái quan trọng nhất thế giới của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới WWF, có thể là nơi cư trú cho nhiều loài đặc hữu [50]. Ở khắp các vùng có mang phân bố, các nghiên cứu về nhóm động vật này được thực hiện tương đối đầy đủ và chi tiết bao gồm cả nghiên cứu về phân loại học, di truyền, phân bố và sinh học sinh thái. Tuy nhiên ở rất ít nghiên cứu được thực hiện ở khu vực Đông dương, các nghiên cứu chỉ thực hiện tập trung trong các năm 1990 đến 1999 và gần như bị bỏ quên từ đó cho đến nay [14].

Tình hình nghiên cứu về thú M C ở Việt Nam. Nghiên cứu thú MGC ở Việt Nam được bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cùng với lịch sử nghiên cứu thú (Mammalia) của Việt Nam (Đặng Huy Huỳnh và cs.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ