Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình hội nhập quốc tế và mở rộng quan hệ đối ngoại, hoạt động giao lưu quốc tế giữ vai trò trực tiếp đối với sự phát triển và vị thế của quốc gia. Hoạt động này hỗ trợ thúc đẩy nhiều lĩnh vực trọng yếu như thương mại, giáo dục, quốc phòng và văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa còn tiềm ẩn các bất đồng về lợi ích, chủng tộc và văn hóa. Để tiến hành hoạt động đối ngoại hiệu quả, việc đào tạo nguồn nhân lực có phẩm chất tâm lý đặc thù và kỹ năng giao tiếp quốc tế trở thành yêu cầu cấp thiết.

Xét trên bình diện nghiên cứu khoa học tại Việt Nam ở thời điểm năm 2006, giao tiếp quốc tế dưới góc độ tâm lý học vẫn là lĩnh vực mới mẻ, chưa được đầu tư nghiên cứu hệ thống. Bên cạnh việc xác định các phẩm chất tâm lý cần thiết, việc tìm hiểu nhận thức của chính chủ thể đào tạo thông qua sự tự đánh giá về mức độ đáp ứng các phẩm chất đó có ý nghĩa then chốt. Khóa luận "Khảo sát tự đánh giá một số phẩm chất trong giao tiếp quốc tế của sinh viên khoa Quan hệ quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM" do sinh viên Bùi Xuân Phượng Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đoàn Văn Điều tại Khoa Tâm lý Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (tháng 6/2006) nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Khảo sát tự đánh giá của sinh viên khoa Quan hệ quốc tế về mức độ quan trọng và cần thiết của các phẩm chất trong giao tiếp quốc tế.
  2. Khảo sát tự đánh giá của sinh viên khoa Quan hệ quốc tế về các phẩm chất trong giao tiếp quốc tế của bản thân so với yêu cầu và mục tiêu đào tạo.
  3. Tìm hiểu và phân tích một số nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả tự đánh giá của sinh viên về các phẩm chất trong giao tiếp quốc tế.
  4. Đề ra một số kiến nghị từ kết quả tự đánh giá của sinh viên khoa Quan hệ quốc tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Sinh viên Khoa Quan hệ quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
  • Đối tượng nghiên cứu: Tự đánh giá một số phẩm chất trong giao tiếp quốc tế của sinh viên Khoa Quan hệ quốc tế.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực hiện trên sinh viên các khóa năm thứ I, II và III đang theo học tại trường trong mốc thời gian từ tháng 12/2005 đến tháng 4/2006.

Giả thuyết nghiên cứu: Do việc đào tạo ngành Quan hệ quốc tế tại miền Nam (cụ thể tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM) mới tiến hành trong khoảng 4 năm trở lại:

  • Sinh viên theo học ngành Quan hệ quốc tế chưa nhận thức đầy đủ và chính xác các yêu cầu, mục tiêu đào tạo về phẩm chất đối với người học và vị trí công tác sau tốt nghiệp, dẫn đến việc tự đánh giá chưa chính xác và chưa đồng đều.
  • Có sự chênh lệch về mức độ đánh giá các phẩm chất giữa các nhóm sinh viên.
  • Các phẩm chất trong giao tiếp quốc tế dựa trên sự tự đánh giá của sinh viên chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu đào tạo.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu tài liệu làm cơ sở lý luận cho đề tài.
  2. Tìm hiểu tự đánh giá một số phẩm chất tâm lý trong giao tiếp quốc tế của sinh viên khoa Quan hệ quốc tế.
  3. Đề ra một số kiến nghị nhằm khắc phục những tồn tại từ kết quả nghiên cứu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm trung tâm

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận tâm lý học đại cương, tâm lý học giao tiếp và lý thuyết hoạt động:

  • Giao tiếp và kỹ năng giao tiếp: Tác giả tiếp cận định nghĩa của PTS. Hoàng Anh, xem giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý tạo nên quan hệ giữa người với người, mang nội dung xã hội lịch sử và các chức năng thông báo, điều khiển, nhận thức, tình cảm. Kỹ năng giao tiếp được phân loại thành ba nhóm: nhóm kỹ năng định hướng (tri giác biểu hiện bên ngoài, phán đoán tâm lý), nhóm kỹ năng định vị (xác định vị trí giao tiếp, thu nhận và xử lý thông tin) và nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp (làm chủ cảm xúc, kiểm chế, sử dụng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ).
  • Giao tiếp quốc tế: Được xác định là quá trình giao tiếp giữa các chủ thể mang tính chất quốc tế, đại diện cho quốc gia hoặc tổ chức quốc tế thông qua tiếp xúc và đàm phán nhằm bảo vệ lợi ích cộng đồng hoặc quốc gia. Khái niệm này liên kết chặt chẽ với bốn thành tố: quan hệ quốc tế, ngoại giao, tiếp xúc ngoại giao và đàm phán (tham chiếu các định nghĩa của Harold Nicolson, E. Satow, Louis Dussault, Dương Văn Quảng, Võ Anh Tuấn).
  • Ý thức và tự ý thức: Tác giả sử dụng quan điểm của Phạm Minh Hạc, Rubinstein, Petrovxki, B. Lomov (ba chức năng của ý thức: nhận thức, điều chỉnh, thông tin), V. Stolin (ba mức độ: cơ thể, cá thể, nhân cách), V. Merlin (bốn giai đoạn phát triển tự ý thức) và I. Chesnokova (hai cấp độ so sánh tự nhận thức). Tự ý thức được xem là hạt nhân cấu trúc nhân cách, giúp cá nhân tự nhận thức, tự điều chỉnh hành vi.
  • Tự đánh giá: Tiếp cận quan điểm đánh giá trong giáo dục của GS. Trần Bá Hoành và Yvan Abernant. Tự đánh giá là khâu cốt lõi của tự ý thức, thể hiện sự suy xét của cá nhân về mức độ đáp ứng các phẩm chất so với khuôn mẫu chuẩn, giữ chức năng định hướng, điều chỉnh và xác nhận năng lực bản thân.

Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tổng hợp sách báo, văn bản pháp luật, giáo trình ngoại giao và nghiên cứu tâm lý học trong và ngoài nước.
  • Phương pháp điều tra viết: Phát phiếu thăm dò ý kiến trực tiếp tại lớp học gồm 55 tiêu chí phẩm chất tâm lý - nghiệp vụ và các câu hỏi về lý do chọn ngành, nguồn gốc hình thành phẩm chất.
  • Phương pháp toán thống kê: Sử dụng thống kê mô tả (tính tỉ lệ %, điểm trung bình Mean, xếp thứ bậc), phương pháp phân tích yếu tố (Factor Analysis) để nhóm 55 tiêu chí thành 5 nhóm yếu tố (YT1 - YT5), và phân tích so sánh kiểm định khác biệt có ý nghĩa thống kê (giá trị $P$) theo giới tính, năm học, khu vực xuất thân và lý do chọn ngành.
Năm học Tổng số sinh viên khoa Số phiếu phát/thu về Số phiếu hợp lệ
Năm I 156 95 95
Năm II 138 109 109
Năm III 112 85 85
Tổng cộng 406 280 (loại 13 phiếu không hợp lệ) 267

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu về giao tiếp và giao tiếp quốc tế qua các thời kỳ:

  • Lịch sử nghiên cứu thế giới: Khái quát các nghiên cứu tâm lý học giao tiếp từ thập niên 1970 của Xacốpnhin (1973), A.A. Lêônchiép (1974), Côlôminxki (1976), Pơlốtnhicôva (1980), Xacanôva (1985), M.S. Cagan (1988); các mô hình điều khiển học giao tiếp hai chiều của Perdonici (1963), mô hình đường truyền/kênh của Thines (1975) và nghiên cứu chỉ báo phi ngôn ngữ của McHazabian (1972). Điểm qua các tài liệu giao tiếp quốc tế chuyên ngành của James Calvert Scott (2000), Judee Reed, Xiaofan Liao (2001), Teresa Thiel, Steven J. Loughrin-Sacco (1994).
  • Lịch sử nghiên cứu trong nước: Phân tích các công trình về giao tiếp của Phạm Minh Hạc (1981), Bùi Văn Huệ, Trần Trọng Thủy (1982, 1996), Hoàng Anh (1992), Nguyễn Văn Lê (1992), Trần Tuấn Lộ (1993, 1995), Nguyễn Sinh Huy (1996); các tài liệu về nghiệp vụ ngoại giao và đàm phán của Mai Văn Bộ (1983), Louis Dussault (1999), Dương Văn Quảng (2000), Học viện Quan hệ Quốc tế (2001), Mai Hữu Khuê (2002), Lam Triều (2004), Võ Anh Tuấn (2005), Trần Minh Trưởng (2005), Ramses Amer - Sherry Gray - Nguyễn Vũ Tùng (2004).
  • Hệ thống phẩm chất của người làm công tác giao tiếp quốc tế: Tác giả phân tích các yêu cầu đặc thù của nhà ngoại giao, bao gồm: lòng yêu nước nhiệt thành, bản lĩnh chính trị vững vàng; trình độ kiến thức và nghiệp vụ sâu rộng (lịch sử, kinh tế thế giới, chính trị học, luật pháp); trình độ diễn đạt chính xác, thuyết phục; sự nhạy bén, linh hoạt, dũng cảm; khả năng thông thạo ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành và phản xạ giao tiếp); cùng các nét khí chất như tự tin, kiên định, bình tĩnh, sáng tạo và năng lực tạo lập thiện cảm.
  • Lý luận về tự ý thức và tự đánh giá: Phân tích bản chất của tự ý thức, cấu trúc ba thành phần (nhận thức, cảm xúc, ý chí) và vai trò của tự đánh giá như một cơ chế liên hệ ngược giúp cá nhân định hướng và tự hoàn thiện nhân cách.

Chương 2: Kết quả nghiên cứu

Chương 2 trình bày kết quả xử lý định lượng trên mẫu 267 sinh viên qua 22 bảng thống kê dữ liệu:

  • Thống kê tổng quát về động cơ và nguồn gốc phẩm chất: Thống kê tỉ lệ lý do chọn học ngành Quan hệ quốc tế (Bảng 2.1) và tỉ lệ nguồn đem lại phẩm chất cho sinh viên (Bảng 2.21, 2.22).
  • Thứ bậc 55 tiêu chí tự đánh giá: Phân tích thứ bậc điểm trung bình Mean của 55 tiêu chí theo từng nhóm (Bảng 2.2 đến 2.6) với thang điểm 4 mức (1.0: rất tốt; 4.0: dưới trung bình).
  • Phân tích 5 nhóm yếu tố phẩm chất (YT1 đến YT5):
    • YT1 - Yếu tố kỹ năng giao tiếp quốc tế bằng tiếng Anh (Bảng 2.7): Khảo sát mức độ tự đánh giá về các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, phản xạ, sử dụng từ ngữ chuyên ngành và phân biệt ngữ cảnh ngôn ngữ.
    • YT2 - Yếu tố biểu hiện phẩm chất tâm lý cần thiết trong giao tiếp (Bảng 2.8): Đánh giá các phẩm chất tự tin, kiên định, chủ động, điềm đạm, quyết đoán, tư duy linh hoạt và năng lực gây cảm tình.
    • YT3 - Kiến thức lịch sử tổng quát (Bảng 2.9): Đánh giá sự hiểu biết về lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới và kiến thức văn hóa xã hội.
    • YT4 - Kiến thức nghiệp vụ hỗ trợ quá trình giao tiếp quốc tế (Bảng 2.10): Tự đánh giá về kiến thức chính trị quốc tế, đối ngoại, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, kiến thức kinh tế và pháp luật.
    • YT5 - Yếu tố phẩm chất nền tảng (Bảng 2.11): Đo lường lòng yêu nước, ý thức đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân và năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt).
  • So sánh và kiểm định thống kê:
    • So sánh điểm trung bình giữa 5 nhóm yếu tố phẩm chất (Bảng 2.12).
    • So sánh tự đánh giá theo giới tính nam - nữ và kiểm định ý nghĩa khác biệt (Bảng 2.13, 2.14).
    • So sánh tự đánh giá giữa sinh viên các năm học I, II, III (Bảng 2.15, 2.16, 2.17).
    • So sánh tự đánh giá theo khu vực địa lý xuất thân của sinh viên (Bảng 2.18, 2.19).
    • Phân tích ý nghĩa khác biệt giữa lý do chọn ngành và kết quả tự đánh giá các nhóm yếu tố (Bảng 2.20).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Thực trạng tự đánh giá: Nghiên cứu chỉ ra sự phân hóa rõ rệt trong mức độ tự đánh giá giữa 5 nhóm yếu tố phẩm chất (YT1 đến YT5). Sinh viên có xu hướng đánh giá cao hơn ở các phẩm chất nền tảng (YT5) và phẩm chất tâm lý chung (YT2), trong khi nhóm kỹ năng tiếng Anh chuyên ngành (YT1) và kiến thức nghiệp vụ chuyên sâu về đối ngoại/chính trị quốc tế (YT4) có điểm tự đánh giá thấp hơn so với chuẩn đầu ra kỳ vọng.
  2. Sự khác biệt theo biến số nhân khẩu học: Kết quả kiểm định thống kê ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa ($P < 0.05$) giữa các năm học (Năm I, II, III), phản ánh sự thay đổi nhận thức của sinh viên theo tiến trình tích lũy kiến thức trong chương trình đào tạo. Sự khác biệt theo giới tính và khu vực địa lý cũng được xác định cụ thể trong từng nhóm tiêu chí.
  3. Kiểm chứng giả thuyết: Các số liệu thống kê chứng minh giả thuyết nghiên cứu ban đầu là có cơ sở: sinh viên những khóa đầu của ngành Quan hệ quốc tế tại TP.HCM chưa có nhận thức hoàn toàn đồng đều về các yêu cầu phẩm chất nghề nghiệp, dẫn đến sự chênh lệch trong mức độ tự đánh giá năng lực cá nhân so với mục tiêu đào tạo.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất

  • Đối với công tác đào tạo: Cần tăng cường bổ sung các học phần thực hành kỹ năng giao tiếp tiếng Anh chuyên ngành, rèn luyện kỹ năng đàm phán và xử lý tình huống nghiệp vụ ngoại giao thực tế.
  • Đối với sinh viên: Cần nâng cao ý thức tự rèn luyện, chủ động trau dồi kiến thức lịch sử, chính trị quốc tế và nâng cao năng lực ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu tuyển dụng sau khi tốt nghiệp.

Đóng góp của đề tài

  • Là một trong những công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tại TP.HCM tiếp cận vấn đề giao tiếp quốc tế dưới góc độ tâm lý học chuyên ngành và tâm lý học sư phạm.
  • Xây dựng được bộ công cụ gồm 55 tiêu chí khảo sát tự đánh giá phân thành 5 nhóm yếu tố rõ ràng, tạo cơ sở dữ liệu thực nghiệm phục vụ việc đánh giá và điều chỉnh chương trình đào tạo ngành Quan hệ quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi mẫu: Nghiên cứu chỉ khảo sát sinh viên từ năm I đến năm III tại Khoa Quan hệ quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, chưa khảo sát sinh viên năm thứ IV (chuẩn bị tốt nghiệp) hoặc mở rộng sang các cơ sở đào tạo ngoại giao khác tại Hà Nội (như Học viện Quan hệ Quốc tế).
  • Hạn chế về phương pháp thu thập: Đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp điều tra viết tự báo cáo (self-report), chưa kết hợp phương pháp quan sát thực nghiệm hành vi giao tiếp hoặc trắc nghiệm tâm lý chuẩn hóa.
  • Hướng mở: Mở rộng khảo sát so sánh giữa tự đánh giá của sinh viên với đánh giá từ giảng viên hoặc nhà tuyển dụng thuộc các cơ quan ngoại giao và doanh nghiệp quốc tế.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Tâm lý học: Tham khảo cách thiết kế công cụ đo lường tự đánh giá, quy trình phân tích nhân tố (Factor Analysis) và ứng dụng toán thống kê trong tâm lý học thực nghiệm.
  • Sinh viên và giảng viên ngành Quan hệ quốc tế, Quốc tế học, Ngoại giao: Tham khảo khung 55 tiêu chí phẩm chất tâm lý - nghiệp vụ và tổng quan lý thuyết về giao tiếp, đàm phán, tiếp xúc ngoại giao.
  • Các nhà quản lý giáo dục: Sử dụng số liệu thực trạng để cải tiến chương trình đào tạo và phương pháp rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên ngành đối ngoại.

Câu hỏi thường gặp

1. Khách thể và đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận là ai?
Khách thể nghiên cứu là sinh viên Khoa Quan hệ quốc tế thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (các năm I, II, III). Đối tượng nghiên cứu là việc tự đánh giá một số phẩm chất trong giao tiếp quốc tế của nhóm sinh viên này.

2. Bảng công cụ điều tra của đề tài gồm bao nhiêu tiêu chí và được phân loại như thế nào?
Bảng công cụ điều tra gồm 55 tiêu chí đo lường theo thang điểm 4 mức (từ rất tốt đến dưới trung bình), được xử lý và phân tích thành 5 nhóm yếu tố: YT1 (Kỹ năng giao tiếp quốc tế bằng tiếng Anh), YT2 (Biểu hiện phẩm chất tâm lý cần thiết), YT3 (Kiến thức lịch sử tổng quát), YT4 (Kiến thức nghiệp vụ hỗ trợ giao tiếp quốc tế) và YT5 (Yếu tố phẩm chất nền tảng).

3. Mẫu khảo sát thực tế của đề tài có quy mô bao nhiêu?
Tác giả đã phát phiếu và thu về tổng cộng 280 phiếu từ sinh viên 3 khóa (Năm I: 95 phiếu/156 sinh viên; Năm II: 109 phiếu/138 sinh viên; Năm III: 85 phiếu/112 sinh viên). Sau khi sàng lọc, có 13 phiếu không hợp lệ bị loại, mẫu nghiên cứu chính thức đưa vào xử lý dữ liệu gồm 267 phiếu.

4. Khung lý thuyết về giao tiếp quốc tế trong khóa luận được xây dựng dựa trên các khái niệm cốt lõi nào?
Khái niệm giao tiếp quốc tế trong đề tài được xây dựng trên cơ sở liên kết 4 khái niệm trung tâm: quan hệ quốc tế, ngoại giao, tiếp xúc ngoại giao và đàm phán, nhấn mạnh vai trò của nhà ngoại giao đại diện cho quốc gia hoặc tổ chức thực hiện hoạt động đối ngoại.

5. Các phương pháp toán thống kê nào đã được sử dụng để xử lý dữ liệu?
Đề tài sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả (tính tỉ lệ %, tính điểm trung bình Mean, xếp thứ bậc), phương pháp phân tích yếu tố để phân nhóm 55 tiêu chí và kiểm định thống kê so sánh sự khác biệt theo giới tính, năm học, khu vực địa lý thông qua giá trị $P$.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Xuân Phượng Anh là công trình nghiên cứu thực nghiệm nghiêm túc thuộc chuyên ngành Tâm lý học, làm rõ thực trạng tự đánh giá phẩm chất giao tiếp quốc tế của sinh viên Khoa Quan hệ quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM. Thông qua việc khảo sát định lượng 267 sinh viên với 55 tiêu chí phân thành 5 nhóm yếu tố, đề tài đã kiểm chứng các giả thuyết khoa học về sự chênh lệch nhận thức và mức độ đáp ứng mục tiêu đào tạo của người học. Công trình cung cấp hệ thống cơ sở lý luận về tâm lý học đối ngoại và nguồn số liệu thực chứng có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu và đổi mới đào tạo ngành quan hệ quốc tế.