Luận án tiến sĩ về nghiên cứu tính chất và ứng dụng của perovskite tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích chế tạo nghiên cứu một số tính chất của perovskite có hằng số điện môi lớn và khả năng ứng dụng, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Vật lý Chất rắn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2012

156
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC VIẾT TẮT VÀ CÁC KÍ HIỆU

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: VẬT LIỆU PEROVSKITE SẮT ĐIỆN TÍNH CHẤT ĐIỆN MÔI VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH GIẢI THÍCH

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VẬT LIỆU PEROVSKITE TỔ HỢP SẮT ĐIỆN - SẮT TỪ (BaTiO3)x(La0.3MnO3)1-x

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỆ VẬT LIỆU BZT PHA TẠP La

5. CHƯƠNG 5: KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu perovskite Tính chất và ứng dụng

Nghiên cứu về vật liệu perovskite đã thu hút sự chú ý lớn trong cộng đồng khoa học và công nghệ. Vật liệu này không chỉ nổi bật với cấu trúc độc đáo mà còn với những tính chất điện, từ và quang học đặc biệt. Từ những năm 1980, perovskite đã được nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực vật lý chất rắn và hóa học. Các ứng dụng của perovskite trong năng lượng mặt trời, cảm biến và điện tử đã mở ra nhiều hướng đi mới cho nghiên cứu và phát triển công nghệ. Đặc biệt, tính chất điện môi lớn của perovskite đã khiến nó trở thành một ứng cử viên lý tưởng cho các ứng dụng trong lĩnh vực điện tử và năng lượng.

1.1. Cấu trúc và tính chất của perovskite

Cấu trúc perovskite lý tưởng có dạng ABO3, trong đó A là ion kim loại lớn và B là ion kim loại nhỏ hơn. Cấu trúc này tạo ra một mạng lưới bát diện BO6, đóng vai trò quan trọng trong các tính chất điện và từ của vật liệu. Tính chất điện môi của perovskite có thể đạt giá trị rất cao, lên tới 106, điều này làm cho nó trở thành một vật liệu lý tưởng cho các ứng dụng trong điện tử và năng lượng.

1.2. Tính chất quang học của perovskite

Perovskite cũng nổi bật với các tính chất quang học đặc biệt, bao gồm khả năng hấp thụ ánh sáng và phát quang. Những tính chất này đã được khai thác trong các ứng dụng như pin mặt trời và cảm biến quang học. Nghiên cứu cho thấy rằng các vật liệu perovskite có thể cải thiện hiệu suất của pin mặt trời lên đến 25%, một con số ấn tượng trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.

II. Thách thức trong nghiên cứu và ứng dụng perovskite

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nghiên cứu và ứng dụng perovskite vẫn gặp phải một số thách thức lớn. Một trong những vấn đề chính là tính ổn định của vật liệu trong môi trường ẩm ướt và nhiệt độ cao. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng perovskite có thể bị phân hủy khi tiếp xúc với độ ẩm, dẫn đến giảm hiệu suất trong các ứng dụng thực tế. Ngoài ra, việc sử dụng các nguyên tố độc hại như chì trong một số loại perovskite cũng đặt ra vấn đề về an toàn và môi trường.

2.1. Vấn đề ổn định của perovskite

Sự ổn định của perovskite là một trong những thách thức lớn nhất trong nghiên cứu. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng perovskite có thể bị phân hủy khi tiếp xúc với độ ẩm, dẫn đến giảm hiệu suất trong các ứng dụng thực tế. Việc phát triển các phương pháp chế tạo mới nhằm cải thiện tính ổn định của perovskite là rất cần thiết.

2.2. Tác động môi trường của perovskite

Việc sử dụng các nguyên tố độc hại như chì trong một số loại perovskite cũng đặt ra vấn đề về an toàn và môi trường. Nghiên cứu hiện tại đang tìm kiếm các vật liệu thay thế không chứa chì nhưng vẫn giữ được các tính chất điện và quang học tốt.

III. Phương pháp nghiên cứu perovskite hiệu quả

Để nghiên cứu và phát triển vật liệu perovskite, nhiều phương pháp khác nhau đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm phương pháp chế tạo gốm, phương pháp sol-gel, và phương pháp lắng đọng hơi hóa học. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, và việc lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng để đạt được các tính chất mong muốn của vật liệu.

3.1. Phương pháp chế tạo gốm

Phương pháp chế tạo gốm là một trong những phương pháp phổ biến nhất để sản xuất vật liệu perovskite. Phương pháp này cho phép kiểm soát tốt các thông số chế tạo và đạt được các tính chất điện và từ mong muốn. Tuy nhiên, việc kiểm soát kích thước hạt và độ đồng nhất của vật liệu vẫn là một thách thức.

3.2. Phương pháp sol gel

Phương pháp sol-gel là một phương pháp khác được sử dụng để chế tạo perovskite. Phương pháp này cho phép tạo ra các màng mỏng với độ dày đồng nhất và tính chất quang học tốt. Tuy nhiên, việc kiểm soát độ ẩm trong quá trình chế tạo là rất quan trọng để đảm bảo tính ổn định của vật liệu.

IV. Ứng dụng thực tiễn của perovskite trong năng lượng

Perovskite đã được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực năng lượng, đặc biệt là trong pin mặt trời. Các nghiên cứu cho thấy rằng pin mặt trời sử dụng perovskite có thể đạt hiệu suất cao hơn so với các loại pin truyền thống. Ngoài ra, perovskite cũng được nghiên cứu cho các ứng dụng trong cảm biến và điện tử, mở ra nhiều cơ hội mới cho công nghệ năng lượng.

4.1. Ứng dụng trong pin mặt trời

Pin mặt trời perovskite đã trở thành một trong những lĩnh vực nghiên cứu nóng nhất trong những năm gần đây. Với hiệu suất cao và chi phí sản xuất thấp, pin mặt trời perovskite hứa hẹn sẽ thay thế các loại pin truyền thống trong tương lai gần.

4.2. Ứng dụng trong cảm biến

Perovskite cũng được nghiên cứu cho các ứng dụng trong cảm biến, nhờ vào tính nhạy cảm và khả năng phát hiện tốt. Các cảm biến dựa trên perovskite có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, từ y tế đến môi trường.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu perovskite

Nghiên cứu về perovskite đang mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực vật liệu và công nghệ. Mặc dù còn nhiều thách thức cần vượt qua, nhưng tiềm năng của perovskite trong các ứng dụng thực tiễn là rất lớn. Tương lai của nghiên cứu perovskite hứa hẹn sẽ mang lại nhiều đột phá trong công nghệ năng lượng và điện tử.

5.1. Tương lai của vật liệu perovskite

Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, vật liệu perovskite có thể sẽ trở thành một phần quan trọng trong các ứng dụng năng lượng và điện tử trong tương lai. Nghiên cứu hiện tại đang tập trung vào việc cải thiện tính ổn định và hiệu suất của vật liệu.

5.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Định hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc phát triển các vật liệu perovskite không chứa chì và cải thiện tính ổn định của chúng trong môi trường thực tế. Các nghiên cứu cũng sẽ hướng tới việc tối ưu hóa quy trình chế tạo để giảm chi phí và tăng hiệu suất.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Vật liệu perovskite sắt điện, tính chất điện môi và một số mô hình giải thích - Chương 2: Phương pháp thực nghiệm - Chương 3: Kết quả nghiên cứu vật liệu perovskite tổ hợp sắt điện- sắt từ (BaTiO3)x(La0.3MnO3)1-x - Chương 4: Kết quả nghiên cứu hệ vật liệu BZT pha tạp La - Chương 5: Khả năng ứng dụng - Kết luận chung - Tài liệu tham khảo 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 VẬT LIỆU PEROVSKITE SẮT ĐIỆN TÍNH CHẤT ĐIỆN MÔI VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH GIẢI THÍCH 1. Cấu trúc perovskite 4+ B 2- O Hình 1.1: Cấu trúc perovskite lý tưởng Cấu trúc perovskite lý tưởng ABO3 được mô tả trong hình 1. Chúng có cấu trúc lập phương với các ion A2+ có bán kính lớn nằm tại các đỉnh hình lập phương và các cation B4+ có bán kính nhỏ hơn nằm tại tâm, còn các ion O2- nằm ở giữa các mặt hình lập phương. Người ta đặc biệt chú ý đến khối bát diện BO6.

Sáu ion O2- nằm ở đỉnh tạo thành khối bát diện. Bên trong khối bát diện là ion B4+. Khối bát diện này đóng một vai trò rất quan trọng với tính chất điện cũng như từ của vật liệu perovskite. Thông số rất quan trọng của cấu trúc perovskite cần xét đến đó là thừa số bền vững.

Thừa số này liên quan mật thiết đến sự hình thành của các mô-men phân cực tự phát. Nếu gọi RA, RB, RO tương ứng là bán kính của các ion A2+, B4+, và O2- thì thừa số bền vững được xác định bằng công thức: RA  RO t (1.1) 2  RB  RO  Nếu t  1 : Cấu trúc perovskite là cấu trúc xếp chặt lý tưởng. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu t  1 : Khoảng cách OB lớn hơn tổng bán kính của các ion O2- va B4+ nên ion B có thể di chuyển ở bên trong khối bát diện. Nếu t  1 : Khoảng cách OA lớn hơn tổng bán kính của các ion O2- và A2+ nên ion A linh động trong mạng perovskite.

Nói chung cấu trúc perovskite bền vững khi 0.1 đưa ra giá trị của thừa số bền vững của một số vật liệu perovskite .1: Thừa số bền vững của một số perovskite [2, 6, 71] Vật liệu t Vật liệu t CaTiO3 0. Liên kết trong mạng perovskite Như đã nêu ở phần trước, tinh thể perovskite là tinh thể iôn có cấu trúc mạng bát diện với các đỉnh bát diện là các anion O2- bao quanh cation B4+. Giữa các ion này luôn tồn tại song song hai loại lực ngược chiều là lực hút Coulomb và lực đẩy ở khoảng cách ngắn. Khi hai nguyên tử nằm gần nhau, các đám mây điện tử của chúng phủ lên nhau.

Lúc này các điện tử của chúng được tập thể hóa nghĩa là ta không phân biệt được điện tử (trong đám mây xen phủ) là của nguyên tử nào. Điều đó có nghĩa là hai mức lượng tử của điện tử thuộc hai nguyên tử đã hoàn toàn chồng lên nhau thành một mức lượng tử duy nhất. Như vậy tổng số các mức lượng tử của hai nguyên tử giảm trong khi số các điện tử không đổi. Theo nguyên lý Pauli thì mỗi mức lượng tử đặc trưng bởi các số lượng tử quĩ đạo, từ và spin chỉ có thể có được 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com duy nhất một điện tử chiếm chỗ.

Vì vậy các điện tử ngày càng phải sắp xếp trong một “không gian” hẹp hơn - do sự xích lại gần nhau hơn của hai nguyên tử - ngày càng trở nên khó khăn. Sự khó khăn này là do sự xuất hiện của một lực đẩy ở khoảng cách ngắn đã nói ở trên. Nguyên nhân sâu xa của lực đẩy này chính là nguyên lý Pauli nên người ta đặt tên cho lực này là lực đẩy Pauli. Lực này hoàn toàn có thể tính toán theo lý thuyết khi biết cụ thể phân bố điện tích của hai nguyên tử.

Nhưng việc tính toán toán học rất phức tạp nên người ta đã dùng thực nghiệm để tìm ra biểu thức của lực đẩy Pauli. Từ kết quả thực nghiệm người ta đưa ra biểu thức của thế năng đẩy giữa hai iôn cách nhau một khoảng R [10]: (SI-CGS) Wi   exp(  R /  ) (1.2) Trong đó  và  là hai hằng số.  có thứ nguyên năng lượng và  có thứ nguyên của độ dài gọi là độ dài tương tác Pauli. Khi R   năng lượng tương tác đẩy giảm xuống đến e-1.

Năng lượng tĩnh điện của hai điện tích q nằm cách nhau một khoảng R có dạng: q2 (CGS) Wcou   (1.3) R Trong đó lấy dấu “+” khi hai điện tích cùng dấu và dấu “-” khi hai điện tích trái dấu. Tổng năng lượng tĩnh điện của nguyên tử i trong mạng bao gồm tất cả các năng lượng tương tác với các nguyên tử khác (j) trong mạng được viết dưới dạng: q2 (CGS) Wi    (1.4) j i rij Trong đó rij là khoảng cách giữa hai i-ôn i và j Đặt pij=rij/R với R là khoảng cách giữa hai lân cận gần nhất. Do lực đẩy của các i-ôn chỉ đáng kể ở khoảng cách gần cho nên chúng ta coi thế năng đẩy chỉ đáng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kể giữa các i-ôn là lân cận gần nhất còn các i-ôn xa hơn là bằng không thì năng lượng liên kết giữa hai ion có dạng:  q2   exp(  R /  )   (lân cận gần nhất)  R  (CGS) Wij   2  (1.5)  1 q   pij R  (các trường hợp khác)   Do đó thế năng tương tác tổng cộng giữa các i-ôn của tinh thể i-ôn là:  q 2  (CGS) Wtol  NWi  N  ze  R /    (1.6)  R  Trong đó z là số các lân cận gần nhất. Và  là hằng số Madelung (SI-CGS)     1 (1.7) pij Tại vị trí cân bằng ứng với cực tiểu của thế năng (1.8) Do đó ở nhiệt độ 0 K, năng lượng tổng cộng của tinh thể i-ôn trong trạng thái cân bằng là: Nq 2    (CGS) Wtol   1   (1.9) R0  R0  Thành phần -Nq2/R0 được gọi là năng lượng Madelung.1 do đó lực đẩy Pauli là một lực đẩy có phạm vi rất ngắn.

Năng lượng tổng cộng (1.6) và năng lượng tổng cộng ở trạng thái cân bằng (1.9) chỉ chứa thế năng hút và đẩy của các i-ôn đó là kết quả gần đúng rất thô. Các tính toán chính xác hơn dựa trên phương pháp phiếm hàm mật độ (DFT) [5, 6, 62] có tính đến cả tương tác giữa hệ điện tử và các hạt nhân cũng như năng lượng tương tác của các hạt nhân với nhau. Thí dụ sử dụng phương pháp phiếm hàm mật độ để 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính toán cho một loại tinh thể i-ôn là perovskite BaTiO3 ta có thể tính toán lý thuyết các tính chất điện tử của vật liệu với độ chính xác cao.2 chỉ ra mối liên hệ giữa năng lượng và thể tích ô cơ sở của tinh thể BaTiO3 ở trạng thái cân bằng. Bằng cách tìm cực tiểu năng lượng tổng cộng (bao gồm cả động năng và thế năng tương tác của hệ điện tử với các i-ôn, điện tử - điện tử và i-ôn – i-ôn) như hàm của thể tích ô cơ sở.2: Sự phụ thuộc của năng lượng tổng cộng của perovskite BaTiO3 cấu trúc lập phương vào thể tích ô cơ sở được tính toán sử dụng phương pháp DFT và chương trình DACAPO [5] Bảng 1.2: Kết quả tính toán sử dụng DFT [3] Năng lƣợng liên Tinh thể BaTiO3 Khe năng lƣợng kết /nguyên tử Tại 393K (pha lập phương) 7.27 eV 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cực tiểu năng lượng tổng cộng đạt được ở thể tích V = 62.96 Å3 ứng với hằng số mạng a = b = c = 3.

Kết quả năng lượng liên kết và khe năng lượng trong phổ năng lượng điện tử của BaTiO3 được đưa ra trong bảng 1. Vật liệu perovskite sắt điện Vật liệu sắt điện đã được biết đến hơn một thế kỷ nay, khi hằng số áp điện lớn được tìm ra trong muối Rochelle có công thức dạng KNa(C4H4O6). Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu cơ bản về tính chất sắt điện trong muối Rochelle, nhưng do cấu trúc phức tạp của nó và có quá nhiều i-ôn trong một ô cơ sở đã dẫn đến những hạn chế trong việc nghiên cứu các lý thuyết tương ứng với các kết quả thực nghiệm được phát hiện trong mẫu muối này. Vào những năm 1930, một nhóm vật liệu khác có tính chất sắt điện cũng đã được nghiên cứu, đó là KH2PO4 (KDP), nhưng phải đến những năm 40, tính chất sắt điện mới được nghiên cứu đầy đủ trong cấu trúc perovskite của BaTiO3.

Việc khảo sát cấu trúc perovskite với số lượng nhỏ các i-ôn trong một ô cơ sở đem đến những kết quả làm lý thuyết căn bản trong việc giải thích các hiệu ứng sắt điện [44, 74]. a) Đặc điểm của vật liệu perovskite sắt điện Giống như vật liệu sắt từ, vật liệu sắt điện có các tính chất tương tự sau [18, 19, 21, 30]: - Có độ phân cực tự phát trong vùng nhiệt độ nhỏ hơn nhiệt độ đặc trưng Tc (nhiệt độ chuyển pha sắt điện-thuận điện – nhiệt độ Curie). - Có cấu trúc đô-mem sắt điện. - Có hiệu ứng trễ với đường trễ trong giản đồ P(E) (P – độ phân cực điện, E cường độ điện trường ngoài đặt vào chất điện môi).

- Có phân cực tự phát. - Hiệu ứng áp điện (tương ứng với hiện tượng từ giảo). 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong vật liệu perovskite sắt điện, xét tương tác giữa i-ôn O2- ở đỉnh bát diện và ion B4+ nằm trong hốc bát diện, tương tác của B4+ với một i-ôn O2- có giản đồ năng lượng E phụ thuộc vào khoảng cách như được thể hiện trên hình 1. E E Năng lượng đẩy Năng lượng tổng cộng R R Năng lượng Coulomb a) b) Hình 1.3: a) Năng lượng tương tác giữa các i-ôn B4+ và O2- như hàm của khoảng cách R giữa các i-ôn b) Sự tạo thành giếng thế kép trong mạng i-ôn perovskite sắt điện Do sự cạnh tranh giữa hai tương tác đẩy Pauli và hút Coulomb nên xuất hiện một cực tiểu năng lượng (hố thế).

Xét tương tác của một i-ôn O2- khác nằm ở phía đối diện với i-ôn O2- đã xét so với B4+ ta cũng có một hố thế khác. Hai hố thế này không trùng khít lên nhau nên tạo thành hai hố thế nằm về hai phía tâm điện tích của hai i-ôn O2- đã xét (xem hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ