MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa tăng nhanh, cùng với sự gia tăng dân số đã gây áp lực ngày càng nặng nề đối với môi trƣờng. Chất thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công, làng nghề, các khu dân cƣ thƣờng không đƣợc xử lý hoặc chỉ xử lý sơ bộ rồi xả trực tiếp ra môi trƣờng. Các chất thải này, trƣớc tiên sẽ gây ô nhiễm các nguồn nƣớc, đất [32], [43], [54], sau đó theo chuỗi thức ăn chúng đi vào cây trồng, nông sản, vật nuôi và vào cơ thể ngƣời.
Trong số các chất gây ô nhiễm thƣờng có các kim loại nặng, trong đó có Cr. Ô nhiễm kim loại nặng là vấn đề cần đƣợc quan tâm đặc biệt vì độc tính và khả năng tích lũy cao của chúng trong cơ thể. Cơ quan Nghiên cứu Ung thƣ Quốc tế (IARC) đã xếp 4 kim loại: As, Cd, Cr, và Ni thuộc nhóm các chất gây ung thƣ cho con ngƣời [93], [94]. Các hợp chất Cr(VI) đã đƣợc biết đến từ lâu về độc tính và khả năng gây ung thƣ [59], [89], [93], [94], [103], vì thế chúng đã đƣợc xếp vào nhóm các chất độc nguy hại [6].
Theo WHO liều gây chết trung bình của Cr(VI) là LD50 (qua tiêu hóa) = 20 ÷ 250 mg/kg [139]. Tuy nhiên, đối với hợp chất Cr(III) còn có nhiều ý kiến khác nhau về tính độc, nhiều tài liệu khoa học khẳng định Cr(III) là cần thiết cho cơ thể, chúng giúp chuyển hóa các gluxit và lipit. Hợp chất Cr(III) tạo thuận lợi cho sự liên kết insulin với cơ quan thụ cảm của nó, do đó giúp cho sự đồng hóa đƣờng glucozơ của tế bào, điều tiết tỷ lệ insulin trong máu, làm tăng tính nhạy cảm của các mô đối với insulin. Đặc biệt, Cr(III) góp phần duy trì và ổn định đƣờng huyết.
Tuy nhiên, chỉ riêng Cr(III) sẽ không có tác động làm giảm tỷ lệ đƣờng trong máu, vai trò của Cr(III) chỉ có hiệu quả khi có mặt đồng thời của insulin. Khi cơ thể xuất hiện một sự đề kháng insulin thƣờng đi đôi với sự thiếu hụt Cr, vi chất dinh dƣỡng Cr(III) (dƣới dạng chromnium picolinate) có tác dụng làm giảm lƣợng đƣờng trong máu [80], [89], [126]. Khi hàm lƣợng Cr(III) trong cơ thể cao (do tích tụ sinh học) có thể gây tổn hại ADN và tế bào [82], Theo WHO liều gây chết trung bình của Cr(III) là LD50 (qua tiêu hóa) = 185 ÷ 615 mg/kg [139]. 2 Để đảm bảo an toàn cho ngƣời khi sử dụng lƣơng thực, thực phẩm, các tổ chức quốc tế nhƣ FAO, WHO và tiêu chuẩn Hoa Kỳ đã khuyến nghị: tổng lƣợng Cr đƣợc phép vào cơ thể qua chế độ ăn uống ở mức 50 ÷ 200 µg/ngày [71], [136], riêng ở Việt Nam, Bộ Y tế khuyến nghị ở mức 0,2 45 µg/ngày tùy theo lứa tuổi [18].
Gạo và rau là những nông sản thƣờng bị phơi nhiễm kim loại nặng từ môi trƣờng canh tác [89]. Đã có khá nhiều nghiên cứu về Mn, Cd, Pb, Hg,. trong thực phẩm, nhƣng ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về mối tƣơng quan giữa hàm lƣợng Cr trong môi trƣờng và nông sản còn ít. Hiện nay, cụm từ “vệ sinh an toàn thực phẩm, sức khỏe ngƣời tiêu dùng” là vấn đề thời sự và đƣợc quan tâm của toàn xã hội.
Việc điều tra, phân tích dƣ lƣợng các chất ô nhiễm trong thực phẩm, để cảnh báo đến các cơ quan hữu trách là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách đối với các nhà khoa học. Phân tích xác định hàm lƣợng Cr trong nƣớc và trong một số nông sản một cách hệ thống, cho phép đánh giá mức độ ô nhiễm, sự tích tụ sinh học, đánh giá tƣơng quan và ảnh hƣởng đến sức khỏe ngƣời dân là một phần trong nhiệm vụ đó. Vì vậy, đề tài luận án đƣợc chọn là “Nghiên cứu xác định tổng Cr trong các mẫu môi trƣờng bằng phƣơng pháp đo quang và đánh giá sự tích tụ Cr trong một số nông sản”. Mục tiêu của đề tài - Phân tích, đánh giá tổng thể mức độ ô nhiễm Cr trong nƣớc Sông Nhuệ.
Đánh giá khả năng sử dụng làm nƣớc tƣới và ảnh hƣởng đến chất lƣợng một số nông sản trong sản xuất nông nghiệp trên toàn tuyến Sông Nhuệ (vì nƣớc tƣới có ảnh hƣởng nhanh nhất và trực tiếp đến cây trồng và nông sản). - Trên cơ sở nghiên cứu quá trình hấp thu và tích lũy Cr trong rau muống, tiến hành phân tích, đánh giá toàn diện mức độ ô nhiễm Cr trong rau và gạo. Từ đó đánh giá mối tƣơng quan giữa hàm lƣợng Cr trong nƣớc tƣới và trong rau, gạo; xác định chỉ số tích tụ sinh học và đánh giá rủi ro sức khỏe cho ngƣời dân sử dụng những loại nông sản này. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài Lƣu vực sông Nhuệ là đối tƣợng điển hình đƣợc chọn để thực hiện các nghiên cứu trong đề tài này, các nghiên cứu đƣợc tập trung vào: - Các mẫu nƣớc trên toàn tuyến Sông Nhuệ tại các địa điểm khác nhau.
3 - Các mẫu gạo và rau muống dọc hai bờ Sông Nhuệ tại các khu vực khảo sát. Nhiệm vụ của đề tài - Trên cơ sở khảo sát các điều kiện tối ƣu cho phản ứng tạo phức màu giữa Cr(VI) với thuốc thử DPCI (1,5-diphenylcarbazide), xây dựng qui trình phân tích, xác định Cr bằng phƣơng pháp quang phổ hấp thụ UV-Vis. Đánh giá độ tin cậy của phƣơng pháp phân tích. - Nghiên cứu quá trình oxi hóa Cr(III) lên Cr(VI) và ảnh hƣởng của các ion cản trở, từ đó xây dựng quy trình phân tích xác định tổng Cr trong các mẫu môi trƣờng.
- Phân tích, xác định hàm lƣợng tổng Cr trong các mẫu nƣớc, gạo và rau muống tại các địa điểm dọc theo tuyến sông Nhuệ. - Nghiên cứu ảnh hƣởng của Cr(III) và Cr(VI) trong nƣớc đến sự hấp thu và tích lũy Cr trong rau muống (trong ngọn và rễ rau). - Đánh giá mối tƣơng quan giữa hàm lƣợng Cr trong các đối tƣợng môi trƣờng, và rủi ro sức khỏe do con ngƣời ăn thực phẩm nhiễm Cr. Những điểm mới của luận án - Trên cơ sở phƣơng pháp tiêu chuẩn xác định hàm lƣợng Cr(VI) bằng thuốc thử DPCI, đã nghiên cứu thành công và đƣa ra qui trình xác định tổng Cr trong các mẫu môi trƣờng bằng kỹ thuật oxi hóa hai giai đoạn: từ Cr(III) lên Cr(VI) đồng thời loại bỏ ion cản.
- Đã phân tích hàm lƣợng tổng Cr trong 19 mẫu nƣớc sông Nhuệ trong 2 năm 2015 và 2016. Từ số liệu thu đƣợc cho phép đánh giá khả năng sử dụng làm nƣớc tƣới và nhận diện nguồn phát thải Cr. - Trên cơ sở phân tích hàm lƣợng Cr trong các mẫu rau muống và gạo đã đánh giá mối tƣơng quan (0,7 < |R| < 0,9) có tính quy luật giữa hàm lƣợng Cr trong nƣớc với hàm lƣợng Cr trong rau muống và gạo. Từ đó đánh giá chỉ số tích tụ sinh học và rủi ro sức khỏe ngƣời tiêu dùng.
KHÁI QUÁT VỀ Cr 1. Cr trong tự nhiên Trong tự nhiên hàm lƣợng crom (Cr) trong vỏ trái đất khoảng 8,3.103% khối lƣợng, là nguyên tố dồi dào thứ 21 trong lớp vỏ trái đất [56], với 04 đồng vị bền là 50 Cr, 52Cr, 53Cr và 54Cr. Các hợp chất, đá, khoáng chủ yếu có chứa Cr là: cromit FeCr2O4 hay FeO. đều ở dạng khó tan [63], [115], [142].
Hàm lượng Cr trong tự nhiên [80], [121], [137]. Tham số Đơn vị Trung bình Vỏ trái đất mg/kg 100 Trầm tích mg/kg 72 Đất trồng mg/kg 200 Nƣớc ngầm μg/L 0,04 20 Nƣớc đại dƣơng μg/L 0,05 3 Nƣớc sông µg/L 0,02 0,3 Ngũ cốc mg/kg 0,17 Khoai tây mg/kg 0,05 Trái cây mg/kg 0,06 1. Cr trong khí quyển Cr phát thải tự nhiên trong không khí (43,27.103 tấn/năm) chủ yếu là Cr(III) từ bụi đất ( 62,4%), khí phun trào từ núi lửa ( 34,67%) hay cháy rừng ( 0,21%) dƣới dạng các hạt có đƣờng kính từ 1,5 ÷ 1,9 μm. với thời gian bán hủy (t1/2) 13 giờ [121], [137].
Cr đƣợc loại bỏ khỏi bầu khí quyển ( 14 ngày) chủ yếu do sự lắng đọng khô (các hạt bụi) và ƣớt (mƣa, sƣơng), tuy nhiên các hạt Cr nhỏ có đƣờng kính < 5 μm có thể tồn tại và khuếch tán trong không khí với thời gian dài hơn [57]. Cr trong nước Hàm lƣợng Cr trong nƣớc tự nhiên: sông, suối, hồ trung bình vào khoảng 1 μg/L [1], [5]; trong nƣớc ngầm cao hơn - khoảng 100 μg/L; ở dạng hòa tan hoặc dƣới dạng chất rắn lơ lửng hấp phụ vào các vật liệu sét, chất hữu cơ, hoặc oxit sắt; cuối cùng chúng đƣợc tích tụ trong các trầm tích [121]. Trong nƣớc đại dƣơng nồng độ Cr trung bình ~ 0,3 μg/L [121], có sự thay đổi theo vùng và độ sâu. Tại Biển Bắc Thái Bình Dƣơng, nồng độ Cr đƣợc phát hiện trung bình là ~ 0,17 μg/L (WHO, 1996), có xu hƣớng tăng dần từ bề mặt đến vùng nƣớc sâu hơn 0,156 ÷ 0,26 μg/L.
Cũng tƣơng tự ở Bắc Đại Tây Dƣơng, nồng độ Cr dao động từ 0,182 ÷ 0,234 μg/L tính từ bề mặt đến vùng nƣớc sâu hơn (Donat và Bruland, 1995) [137]. Theo các nghiên cứu đƣợc công bố tại Mỹ, trong cộng đồng dân cƣ, nguồn cung cấp nƣớc cho sinh hoạt cũng có mặt Cr với hàm lƣợng < 5 μgCr/L (WHO 2003), đặc biệt dạng Cr(VI) cũng đã đƣợc phát hiện trong nƣớc máy tại 31/35 tiểu bang với hàm lƣợng trung bình 0,020 ppb [103], [121], [137]. Cr trong đất Cr tồn tại trong đất dƣới 2 dạng là Cr(III) và Cr(VI). Độ tan của các hợp chất Cr(III) và sự di chuyển của nó có thể tăng do sự hình thành các phức tan với chất hữu cơ trong đất, hoặc ở khu vực có pH thấp (Avudainayagam và cộng sự, 2003) [121].
Cr(VI) ít tồn tại trong đất do các chất hữu cơ (các axit amin, các axit mùn humic và fulvic) hấp thụ và khử Cr(VI) thành các hợp chất Cr(V) trung gian, sau đó chuyển thành Cr(III) nhanh (t1/2 = 0 ÷ 53 ngày), bởi vậy các ion Cr(VI) chỉ tồn tại và di động nếu nồng độ của nó vƣợt quá khả năng hấp thụ của đất. Theo Sedlak và Chan (1997), thì sự khử Cr(VI) cũng có thể xảy ra khi phản ứng với các hợp chất Fe(II) [137]. Ngƣợc lại, quá trình oxy hóa Cr(III) đến Cr(VI) chậm (với chu kỳ bán hủy t1/2 = 0,58 ÷ 37,2 năm) [137]. Ứng dụng của Cr Từ thế kỷ 19, Cr đã đƣợc sử dụng rất phổ biến trong thành phần của các loại sơn và trong nghề thuộc da [28], [63], [142].