Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 1.1 Đại cương về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (Acute Respiratory Infections- ARI) là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp bắt đầu từ mũi, họng đến thanh quản, khí quản, phế quản, phổi. Dựa vào vị trí các đoạn của bộ phận hô hấp, người ta phân chia ra đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới. Phần lớn nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ em là nhiễm khuẩn hô hấp trên (2/3 trường hợp) như ho, cảm lạnh, viêm họng, viêm mũi, viêm V.A, viêm amydale, viêm xoang, viêm tai giữa … nhiễm khuẩn hô hấp trên thường nhẹ, còn nhiễm khuẩn hô hấp dưới tỉ lệ ít hơn (1/3 trường hợp) nhưng thường là nặng, dễ tử vong như viêm thanh quản, viêm thanh khí - phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi, đặc biệt là viêm phổi cấp tính ở trẻ nhỏ có tỉ lệ tử vong cao nhất, vì vậy cần phải được theo dõi và phát hiện sớm để điều trị kịp thời [45].
Tại bệnh viện Nhi Đồng 1, viêm phổi có tỷ lệ nhập viện cao đứng thứ hai sau tiêu chảy, mỗi năm có khoảng 4.000 trẻ nhập viện vì viêm phổi và không ngừng gia tăng, cao điểm trong các tháng mùa lạnh. Năm 2004, viêm phổi chiếm tỷ lệ 45%, cao nhất trong tổng số bệnh lý hô hấp nằm viện. Tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/03/2001 – 28/02/2002 có 3221 trẻ dưới 2 tuổi nhập Khoa hô hấp vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, trong đó 1092 trường hợp viêm phế quản phổi và 42 trường hợp viêm phổi thùy, chiếm tỷ lệ chung 35% [17]. Theo thống kê cả nước có khoảng 20 đến 30 ngàn trẻ dưới 5 tuổi chết vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính hàng năm, chủ yếu do bệnh viêm phổi.
4 Là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính của đường thở nghĩa là từ tai, mũi, họng, đường dẫn khí (thanh quản, khí quản, phế quản), cho đến phổi. Bệnh thường có biều hiện ho không quá 30 ngày. Đây là bệnh phổ biến nhất, nguyên nhân nhập viện và tử vong hàng đầu ở trẻ em, nhất là trẻ dưới 5 tuổi. Ước tính một em bé dưới 5 tuổi có thể bị NKHHCT 5-8 lần mỗi năm.
Nếu được chăm sóc tốt, đa số trẻ sẽ tự khỏi trong vòng 10 – 14 ngày. Tuy nhiên, khoảng 20-25% trẻ bị NKHHCT sẽ diễn tiến thành viêm phổi, cần điều trị kháng sinh thích hợp để tránh biến chứng và tử vong [5]. Ước tính một em bé dưới 5 tuổi có thể bị NKHHCT 5-8 lần mỗi năm, số trẻ mắc bệnh hô hấp đến khám tại cơ sở y tế hàng năm 30-40% trên tổng số trẻ em đến khám [5]. Hiện nay, viêm phổi vẫn là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển: ước tính có khoảng 4.300 trẻ tử vong do viêm phổi mỗi ngày, cứ mỗi 20 giây sẽ có một trẻ tử vong do viêm phổi trên toàn thế giới và 95% là ở các nước đang phát triển [22].
Những dấu hiệu khi trẻ mắc NKHHCT gồm có ho, sốt hoặc hạ nhiệt độ, chảy nước mũi, thở nhanh, khó thở, thở khò khè, rút lõm lồng ngực, cánh mũi phập phồng, tím tái, co giật, thở rít khi nằm yên, bỏ bú hoặc bú kém, ran nổ, ran ẩm nhỏ hạt, ran rít, ran ngáy. Tuy nhiên, mức độ xuất hiện các triệu chứng này khác nhau tùy thuộc vào tình trạng bệnh nặng nhẹ, vào lứa tuổi của trẻ, vị trí tổn thương.2 Phân loại và xử trí Theo vị trí tổn thương (vị trí giải phẩu học) * Viêm đường hô hấp trên: -Cảm lạnh( Viêm long đường hô hấp trên). -Viêm VA -Viêm tai giữa. 5 -Viêm Amidal * Viêm đường hô hấp dưới: -Viêm thanh quản.
-Viêm thanh – khí quản. -Viêm phế quản. -Viêm tiểu phế quản. -Viêm phổi Phân loại theo mức độ nặng nhẹ: -Không viêm phổi.
-Viêm phổi nặng. -Bệnh rất nặng Triệu chứng thường thấy nhất là ho dưới 30 ngày, có thể kèm theo sốt hoặc không. Ngoài ra còn có thể kèm theo các triệu chứng khác như đau họng, nghẹt mũi, sồ mũi, thở khò khè. Đặc điểm lâm sàng thường gặp và chẩn đoán sớm NKHHCT ở trẻ em Những dấu hiệu khi trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp gồm có: ho, sốt hoặc hạ nhiệt độ, chảy nước mũi, thở nhanh, thở khò khè, rút lõm lồng ngực, cánh mũi phập phồng, tím tái, co giật, thở rít khi nằm yên, bỏ bú hoặc bú kém, ran nổ, ran ẩm nhỏ hạt, ran rít, ran ngáy.
Tuy nhiên, mức độ xuất hiện các triệu chứng này khác nhau tùy thuộc vào tình trạng bệnh nặng nhẹ, vào lứa tuổi của trẻ, vị trí tổn thương. - Ho là dấu hiệu có sớm của NKHH khi đường thở bị viêm nhiễm -Thở nhanh: + Do hiện tượng thiếu O2 khi phổi bị viêm, bị mất tính đàn hồi dãn nở, tính mềm mại 6 + Chức năng trao đổi khí bị giảm sút + Trẻ phải tăng nhịp thở để đảm bảo đủ lượng O2 cung cấp cho cơ thể. Muốn xác định ngưỡng thở nhanh, phải dựa trên cơ sở tần số thở bình thường. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ngưỡng thở nhanh của trẻ dưới 5 tuổi như sau: - Trẻ dưới 2 tháng tuổi: Nhịp thở từ 60 lần/phút trở lên - Trẻ từ 2 tháng đến 12 tháng: Nhịp thở từ 50 lần/ phút trở lên - Trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi: Nhịp thở từ 40 lần/phút trở lên Đếm nhịp thở phải đếm trong vòng 1 phút, đếm trong lúc trẻ nằm yên hoặc tốt nhất là lúc trẻ ngủ.
Xem kiểu thở: chú ý đối với trẻ dưới 2 tuổi chủ yếu là thở bụng, nếu nghi ngờ cần đếm lại lần thứ hai. Nhịp thở nhanh là dấu hiệu lâm sàng độc đáo mà không có một dấu hiệu lâm sàng nào kết hợp được cả độ nhạy và độ đặc hiệu cao khi chẩn đoán viêm phổi. Phương pháp đếm nhịp thở có thể chẩn đoán đúng khoảng 80% trường hợp viêm phổi [45]. Bệnh rất nặng hoặc viêm phổi rất nặng - Dấu hiệu: trẻ có một trong các dấu hiệu nguy kịch sau + Không uống được + Co giật + Ngủ li bì hay khó đánh thức + Thở rít khi nằm yên + Suy dinh dưỡng nặng.
- Xử trí + Chuyển đi bệnh viện ngay. + Dùng 1 liều kháng sinh đầu tiên + Điều trị sốt (nếu có) + Điều trị khò khè (nếu có) + Nếu nghi ngờ sốt rét, dùng thuốc chống sốt rét. Viêm phổi nặng - Dấu hiệu: Các triệu chứng của trẻ khi bị viêm phổi nặng đó là khi trẻ có thở co lõm lồng ngực, nghĩa là khi trẻ hít vào phần dưới lồng ngực sẽ bị lõm vào thay vì nở ra như bình thường. Cần cho trẻ nhập viện vì đây là triệu chứng cho biết trẻ đã bị viêm phổi nặng, cần điều trị tích cực để tránh biến chứng và tử vong.
Cần lưu ý là mọi trường hợp viêm phổi ở trẻ dưới 2 tháng đều nặng và đều cần phải nhập viện. Cần lưu ý các dấu hiệu nguy hiểm nào để đưa trẻ đi khám ngay. Khi có 1 trong các dấu hiệu sau cần đưa trẻ đi cấp cứu ngay vì tính mạng trẻ đang bị đe dọa nghiêm trọng: - Tím tái - Bỏ bú hoặc bú kém (trẻ dưới 2 tháng tuổi), không uống được (trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi) - Co giật - Ngủ li bì, khó đánh thức - Thở có tiếng rít - Suy dinh dưỡng nặng. Đặc biệt trẻ dưới 2 tháng nếu có sốt hoặc hạ nhiệt độ (trẻ lạnh), thở khò khè thì cũng là dấu hiệu nguy hiểm cần đưa trẻ đi khám ngay.
- Xử trí + Chuyển ngay đến bệnh viện + Dùng 1 liều kháng sinh đầu tiên + Điều trị sốt (nếu có) + Điều trị khò khè (nếu có) 8 Nếu không có điều kiện chuyển vịên thì điều trị bằng kháng sinh và theo dõi chặt chẽ. Viêm phổi -Dấu hiệu Triệu chứng sớm nhất khi trẻ bị viêm phổi là thở nhanh. Để nhận biết trẻ có thở nhanh hay không, ta cần đếm nhịp thở của trẻ trong 1 phút, với đồng hồ có kim giây. Tốt nhất là chỉ đếm nhịp thở khi trẻ nằm yên không quấy, khóc.
Việc chẩn đoán và điều trị viêm phổi chủ yếu dựa vào dịch tễ, lâm sàng và X-quang phổi [25]. • Trẻ dưới 2 tháng: thở nhanh khi nhịp thở từ 60 lần /phút trở lên • Trẻ từ 2 tháng đến dưới 12 tháng: thở nhanh khi từ 50 lần /phút trở lên • Trẻ từ 12 tháng đến dưới 5 tuổi: thở nhanh khi từ 40 lần /phút trở lên Khi thấy trẻ thở nhanh cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được điều trị sớm vì đây là triệu chứng sớm nhất báo hiệu là trẻ đã bị viêm phổi. - Xử trí: + Dùng kháng sinh tại nhà + Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ tại nhà. + Điều trị sốt (nếu có) + Điều trị khò khè (nếu có) + Hẹn tái khám lại sau 2 ngày.
Khi bà mẹ đưa con đến tái khám, nếu: * Trẻ bệnh nặng hơn: Không uống được, rút lõm lồng ngực, có một trong các dấu hiệu nguy kịch thì chuyển ngay đến bệnh viện * Trẻ không đỡ: Khi tình trạng bệnh của trẻ không thay đổi, nhịp thở không giảm. Tiến hành đổi kháng sinh hoặc chuyển trẻ lên bệnh viện. * Trẻ đỡ bệnh: Biểu hiện trẻ đỡ sốt, nhịp thở chậm hơn, ăn ngủ và chơi tốt, thực hiện tiếp tục dùng kháng sinh cho trẻ đủ 5 ngày 9 1. Không viêm phổi (ho hoặc cảm lạnh) - Dấu hiệu: + Ho, cảm lạnh, chảy nước mũi, hoặc nghẹt mũi + Không rút lõm lồng ngực + Không thở nhanh + Không có bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào.
+ Điều trị sốt (nếu có) +Điều trị thở khò khè (nếu có) + Sử dụng kháng sinh khi có chỉ định: các loại kháng sinh thường dùng * Sulfamide: tác dụng kiềm khuẩn, có tác dụng cả vi khuẩn gram (-) và gram (+), hấp thu tốt qua đường tiêu hóa 70 - 90 %, đào thải chủ yếu qua thận * Beta – lactam: kháng sinh diệt khuẩn, hữu hiệu với hầu hết vi trùng gram (+), cầu khuẩn gram (-), hấp thu chủ yếu ở tá tràng và phần trên của hỗng tràng, bài tiết chủ yếu qua đường thận + Nếu ho trên 30 ngày, chuyển đến bệnh viện để chẩn đoán + Điều trị viêm tai, viêm họng (nếu có) + Khám và chữa các bệnh khác (nếu có) + Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc tại nhà 1. Phòng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Bảo đảm cho trẻ được bú sữa mẹ, bú sớm ngay sau đẻ, bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu và bú kéo dài đến 2 năm.