PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, thị trường viễn thông đang đối mặt với tình trạng bão hòa của các dịch vụ viễn thông truyền thống trong đó có dịch vụ di động, thị phần này gần như đã được định hình trên 3 nhà mạng lớn đó là Vinaphone, Viettel, mobifone. Dưới tác động của những chính sách đã ban hành trong năm 2018, nhất là dịch vụ chuyển mạng giữ nguyên số (MNP) đã và đang tạo nên những chuyển biến lớn về thị phần giữa các nhà mạng. Sau một năm chính thức triển khai dịch vụ chuyển mạng giữ số tại Việt Nam (16/11/2018 đến ngày 27/11/2019), theo số liệu thống kê của Cục Viễn thông (Bộ TT&TT), đã có tổng cộng 1.773 thuê bao đăng ký chuyển mạng giữ số, trong đó, số khách hàng chuyển mạng giữ nguyên số đã thực hiện thành công là 1.
Tỷ lệ chuyển mạng giữ số thành công của các nhà mạng trong một năm qua lần lượt là MobiFone (76,9%), VinaPhone (83,7%), Viettel (85,5%) và Vietnamobile (62,5%) và sau gần 2 năm thực hiện MNP hơn 2,6 triệu thuê bao đã đăng ký chuyển mạng giữ số tính từ khi được áp dụng dịch vụ này hồi cuối năm 2018, tỷ lệ chuyển mạng giữ số thành công thực tế đạt khoảng 80% [7]. Ngoài số lượng thông kê thuê bao chuyển mạng giữ số như trên thì vẫn còn có một số lượng không nhỏ các thuê bao chuyển đổi nhà cung cấp mạng mà đổi cả số thuê bao. Như vậy việc chuyển đổi nhà mạng vẫn đã đang và sẽ diễn ra do nhiều yếu tố ảnh hưởng tới người tiêu dùng Điều đó khiến các nhà mạng phải chịu áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt nhằm giữ vững thị phần, đòi hỏi các nhà mạng phải liên tục nâng cao chất lượng dịch vụ, chú trọng công tác chăm sóc khách hàng, xây dựng các gói cước phù hợp từng đối tượng khách hàng,… Chính vì thế, Việc nghiên cứu 2 nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động của người tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc định hướng chính sách phát triển của các nhà mạng viễn thông Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến việc khám phá hành vi và ý định hành vi chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động. Cụ thể như nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định thay đổi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động tại thị trường pakistan của Ayesha, Nazia Hussain và Adman Riaz (2011), nghiên cứu của G.
Vandama tại thị trường Ấn độ (2011), hay nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thay đổi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động của Mohammad Suleiman Awwad, Bashar Awad Neimat (2010) tại thị trường Ấn độ. Một số nghiên cứu trên có sử dụng lý thuyết mô hình Đẩy – Kéo – Giữ (Push-Pull-Mooring). Ở Việt Nam trước đó cũng có một số đề tài nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới ý định thay đổi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Tuy nhiên mô hình Đẩy – Kéo – Giữ của việc chuyển đổi dịch vụ không được sử dụng ở các đề tài nghiên cứu này.
Thêm nữa các đề tài được nghiên cứu trước khi có chính sách triển khai chuyển mạng giữ số MNP Từ những cơ sở đó, tác giả lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hà Nội” 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Tóm lược kết quả nghiên cứu trước đó về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, cụ thể như sau: Bùi Thị Kim Tiền (2013) với luận văn “ Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thay đổi nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động của khách hàng” , tác 3 giả đã xây dựng mô hình đề xuất là mô hình thuyết hành động hợp lý và mô hình thuyết hành vi dự định. tiếp đó xây dựng thang đo và bảng câu hỏi điều tra khảo sát và tiến hành khảo sát 350 khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ các mẫu sử dụng phần mềm SPSS phân tích các yếu tố tác động đến ý định thay đổi nhà cung cấp dịch vụ.
Kết quả 7 yếu tố với 32 biến quan sát có ảnh hưởng tới đến ý định thay đổi nhà cung cấp, đó là các yếu tố theo thứ tự quan trọng bao gồm: Kiểm soát xung đột, Cam kết của nhà cung cấp, Kiến thức về các lựa chọn thay thế, Chi phí chuyển đổi, chất lượng dịch vụ cung cấp, nhận thức của người tham khảo và cước dịch vụ. Đoàn Thị Loan Nhi (2015) với luận văn “ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động & hành vi sau khi mua của khách hàng tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ”, tác giả sử dụng 2 nguồn: nguồn thứ cấp (các tạp chí chuyên về viễn thông, các tờ báo trang web.), nguồn sơ cấp qua phỏng vấn khách hàng đã từng chuyển đổi nhà mạng. Phương pháp phân tích dữ liệu là phương pháp hồi quy nhị phân Binary logicstic và phương pháp phân tích phương sai ANOVA. Khảo sát được 160 mẫu đủ điều kiện, Kết quả có 7 yếu tố ảnh hưởng: nhà cung cấp, dịch vụ, yếu tố cá nhân, cước phí, sự thuận tiện, dịch vụ gia tăng và giá trị tăng thêm, theo đó yếu tố cước phí ảnh hưởng cao nhất, sau đó là đến yếu tố giá trị tăng thêm, các yếu tố còn lại ảnh hưởng thấp.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài Mô hình dịch chuyển Đẩy - Kéo – Giữ (PPM) là một mô hình có nguồn gốc từ các nghiên cứu về di cư.
Các nghiên cứu về di cư cho thấy các cá nhân di cư từ địa phương này sang địa phương khác, họ sẽ bị đẩy đi bởi các yếu tố đẩy (yếu tố tiêu cực) của nơi ở hiện tại hoặc bị thu hút bởi đích đến bằng các yếu tố kéo. Ngoài ra, còn có các yếu tố cá nhân và xã hội như chi phí di chuyển là yếu tố giữ, tạo thuận lợi hoặc hạn chế việc di cư [17, tr. Theo 4 Bogue (1969) cho rằng các yếu tố đẩy có thể bao gồm: suy giảm một nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc giá trả cho nó; mất việc làm; điều trị áp bức do các đảng phái chính trị, tôn giáo, hoặc sắc tộc; thiếu cơ hội phát triển cá nhân, việc làm hoặc hôn nhân; và thiên tai như lũ lụt, động đất, hỏa hoạn hoặc dịch bệnh. Các yếu tố kéo có thể bao gồm, ví dụ, cơ hội vượt trội cho việc làm, thu nhập cao hơn, hoặc giáo dục; môi trường và điều kiện sống thích hợp hơn; và cơ hội cho các hoạt động, môi trường hoặc con người mới.
Để thực hiện các chiến lược di dân, người ta phải xem xét ở 3 góc độ. Thứ nhất, nhận thức của người di cư về các yếu tố thuộc nơi ở hiện tại của họ có thể đẩy di chuyển sang nơi khác (gọi là các yếu tố đẩy). Thứ hai, nhận thức của người di cư về các yếu tố thuộc đích đến, có thể là hoạt động để thu hút người di cư đến (gọi là các yếu tố kéo). Thứ ba, nhận thức của người di cư về các yếu tố cá nhân và xã hội có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc cản trở quá trình di cư (gọi là các yếu tố giữ).
James (2005) là nghiên cứu đầu tiên đã khám phá khả năng ứng dụng của mô hình PPM trong lĩnh vực nghiên cứu địa lý vào lĩnh vực marketing. Mô hình dịch chuyển Đẩy - Kéo – Giữ của việc chuyển đổi dịch vụ (PPM) là một khung lý thuyết toàn diện, xác định các biến nhất định, giải thích sự phức tạp về quá trình chuyển đổi của người tiêu dùng trong lĩnh vực dịch vụ. M (2005) là một nghiên cứu điển hình, nghiên cứu đã xây dựng mô hình nghiên cưu ý định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông (bao gồm 2 dịch vụ viễn thông chính là dịch vụ viễn thông di động và dịch vụ truy cập internet), mô hình bao gồm 3 nhóm nhân tố, (1) Nhân tố đẩy bao gồm sự hải lòng và nhận thức về giá dịch vụ; (2) Nhân tố kéo là Nhận thức về sự hấp dẫn thay thế; (3) Nhân tố giữ bao gồm: Nhận thức về chi phí chuyển đổi và nhận thức về giá trị gói dịch vụ. Mô hình được kiểm định bằng cách sử dụng dữ liệu thu thập được từ hai dịch vụ CNTT đó là dịch vụ dữ liệu di động và dịch vụ kết 5 nối Internet trong hai cuộc khảo sát được với kích thức mẫu là 7910 tại Hồng Kông.
Đối với dịch vụ điện thoại di động có kích thước mẫu 7910, đối với dịch vụ kết nối internet có kích thước mẫu là 6095. Cả hai dịch vụ viễn thông được lựa chọn đều có các nhà cung cấp dịch vụ tương đối phong phú trên thị trường. Có 11 nhà khai thác di động và 10 ISP ở Hồng Kông. Kết quả nghiên cứu thấy mô hình nghiên cứu là phù hợp và có giá trị.
Sự hài lòng và nhận thức về giá, sự hấp dẫn thay thế, nhận thức về chi phí chuyển đổi và nhận thức về giá trị gói dịch vụ để có tác động đáng kể đến ý định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ của người tiêu dùng. Thị trường dịch vụ inernet ở Việt Nam và Hồng Kong là tương đồng, là thị trường đang ở giai đoạn phát triển dịch vụ internet hạ tầng, thị phần thị trường tập trung vào một số ít ISP. Nghiên cứu của Mohammad Suleiman Awwad và cộng sự (2010) đã làm rõ sự ảnh hưởng của MNP đến sự chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động của khách hành tại thị trường Jordan.