Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Phần 2 sẽ tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết, tập trung vào những khái niệm quan trọng dùng trong nghiên cứu. Từ đó, đưa ra các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu. CÁ C KHÁ I NIỆM Ý định tiếp tục sử dụng (Continuance Intention) đề cập đến việc người dùng cá nhân sử dụng lâu dài hoặc liên tục trong một khoảng thời gian (Bhattacherjee a, 2001; là hành vi lặp lại của người sử dụng sau khi lần đầu tiên trải nghiệm sản phẩm nào đó (Limayem và cộng sự, 2007); là sức mạnh ý định của người tiêu dùng để thực hiện một hành vi cụ thể (Amoroso & Lim, 2017).
Một sản phẩm CNTT không được coi là thành công nếu người sử dụng – đối tượng được kỳ vọng sẽ hưởng lợi từ việc sử dụng nó, không duy trì hành vi sử dụng nó sau trải nghiệm lần đầu (Bhattacherjee, 2014). Ý định tiếp tục sử dụng được sử dụng trong bài nghiên cứu này theo định nghĩa của Rahi và Ghani (2019) là “Người dùng quyết định tiếp tục sử dụng một công nghệ cụ thể mà một bản thân họ đã được sử dụng”. Các nghiên cứu về ý định tiếp tục sử dụng sản phẩm CNTT nói chung và ứng dụng thanh toán di động nói riêng phần lớn sử dụng lý thuyết Mô hình TAM (Ortiz de Guinea & Markus, 2009). Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) (Davis, 1989), giả định rằng ý định sử dụng công nghệ của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi tính hữu ích cảm nhận và tính dễ sử dụng cảm nhận.
Khi ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu, nguồn dữ liệu ngày càng phát triển dẫn đến mô hình này đã được mở rộng nhiều hơn. Vài năm sau, Nysveen et al. (2005b) kết hợp TAM và Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajzen, 1991) với các động cơ không thực dụng để cho rằng ý định sử dụng dịch vụ di động được giải thích bằng nhận thức của người tiêu dùng về nhiều thuộc tính, tức là sự biểu đạt, sự thích thú, tính hữu ích, dễ sử dụng, ảnh hưởng xã hội và kiểm soát hành vi. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của sự tin tưởng và bảo 8 mật trong việc dự đoán ý định hành vi như vậy (Dahlberg, Mallat, & Ö örni, 2003; Dewan & Chen, 2005; Lu, Yang, Chau, & Cao, 2011).
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thế Phương (2014) đã sử dụng mô hình TAM mở rộng làm cơ sở lý thuyết để điều tra quyết định sử dụng dịch vụ Mobile Banking tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy: Tính hữu ích, dễ dàng sử dụng, sự tin tưởng, chi phí và rủi ro sử dụng có tác động quan trọng đến quyết định sử dụng dịch vụ Mobile Banking của khách hàng tại địa bàn này. Tương tự, Lê Tô Minh Tân (2013) nghiên cứu quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến của khách hàng cá nhân ở Thừa Thiên Huế, kết quả cho thấy các nhân tố như cảm nhận rủi ro, cảm nhận dễ sử dụng, cảm nhận sự hữu ích có tác động đến quyết định sử dụng kênh ngân hàng trực tuyến, trong đó, cảm nhận sự hữu ích có tác động lớn nhất. Với sự đa dạng của các yếu tố được kiểm tra, nghiên cứu này đặc biệt tập trung vào các yếu tố sau: 2.
Có nhiều nghiên cứu về lòng trung thành xem thói quen là một nhân tố tác động, nhưng Kotler (2003) biện luận rằng nếu người mua tìm đến sản phẩm cũ thì đó là thói quen chứ không phải trung thành, tức là nếu chỉ là thói quen mua thuần túy vì trước đó đã sử dụng rồi thì đó không được coi như là trung thành. Harrison & Shaw (2004) và Paul et al. (2009) có kết luận rằng những biến liên quan đến thói quen có tác động đến quyết định lặp lại của khách hàng. Bài nghiên cứu này tiếp cận theo quan điểm lòng trung thành cần phải được xét trong tất cả các yếu tố như sự lặp lại mua trong một khoảng thời gian đủ dài và sở thích về thương hiệu hay công ty họ đang sử dụng.
Cho nên yếu tố thói quen được tách ra nghiên cứu riêng so với sự hài lòng. Đặc điểm của khách hàng mua theo thói quen là họ không bỏ công tìm kiếm thông tin về các nhãn hiệu, đánh giá các đặc điểm của chúng, không 9 hình thành một thái độ rõ ràng về một nhãn hiệu, mà lựa chọn nó chỉ vìnó quen thuộc. Vì vậy, trong bài nghiên cứu này, Thói quen được định nghĩa là mức độ mà người dùng có xu hướng tự động truy cập các Ứng dụng xã hội trên điện thoại di động mà không cần suy nghĩ (Kim & cộng sự, 2005). Sự tự tin vào năng lực bản thân (Self-efficacy) Sự tự tin vào năng lực bản thân (Self-efficacy) đề cập đến sự đánh giá của một cá nhân về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của bản thân họ (Bandura A, 1986).
Cảm giác tự tin vào năng lực bản thân là động lực thúc đẩy hành vi của con người (White, 1959). Nó giải thích niềm tin của cá nhân vào khả năng thành công của họ trong các tình huống cụ thể, dẫn đến kết quả mong muốn. Các nhà nghiên cứu gần đây đã dùng sự tự tin vào năng lực bản thân trong nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ mới, trong đó có định nghĩa về sự tự tin vào năng lực bản thân là khả năng sử dụng CNTT của một cá nhân (Compeau DR và Higgins CA, 1995).Theo Min Han & cộng sự (2018), sự tự tin vào năng lực bản thân là khi bản thân mỗi cá nhân có được sự tự tôn và nhận ra giá trị bản thân bằng cách chia sẻ thông tin sản phẩm có liên quan và trải nghiệm cá nhân trong cộng đồng hoặc bằng cách giúp đỡ người khác. Theo Shiau và cộng sự (2020), sự tự tin vào năng lực bản thân được chia thành sự tự tin vào năng lực bản thân về công nghệ và sự tự tin vào năng lực bản thân về tài chính.
Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa theo sự tự tin vào năng lực bản thân vào công nghệ, nghĩa là người dùng đánh giá khả năng hoàn thành cách tác vụ trên điện thoại thông minh của mình. Tính hữu ích cảm nhận (Perceived usefulness) Theo Davis (1989), tính hữu ích cảm nhận được định nghĩa là mức độ nhận thức mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng một hệ thống, một dịch vụ hay sản phẩm công nghệ đặc biệt sẽ nâng cao hiệu suất công việc của họ Trong bài nghiên cứu này, tính hữu ích cảm nhận được hiểu là nhận thức của một cá nhân rằng một công nghệ mới (ứng 10 dụng thanh toán di động) có thể giúp cải thiện hiệu suất công việc của bản thân họ (Zhang và cộng sự, 2016). Tính dễ sử dụng cảm nhận (Perceived ease of use) Tính dễ sử dụng cảm nhận (Perceived ease of use) được định nghĩa là mức độ mà người tiêu dùng tin rằng việc sử dụng một công nghệ cụ thể sẽ không tốn (quá nhiều) công sức (Vijayasarathy, 2004) hay mức độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống, một dịch vụ hay sản phẩm công nghệ mới họ cũng không khó khăn để học cách sử dụng nó, việc sử dụng sẽ đơn giản và dễ hiểu (Davis, 1989). Trong bài nghiên cứu này, tính dễ sử dụng cảm nhận được hiểu là mức độ mà người dùng nhận thức rằng việc sử dụng một công nghệ mới (ứng dụng thanh toán di động) sẽ đòi hỏi nỗ lực của họ chỉ ở mức tối thiểu (Zhang và cộng sự, 2016).
Sự tin tưởng (Trust) Sự tin tưởng được coi là một tập hợp các niềm tin rằng người khác sẽ thực hiện những cam kết mà họ mong đợi (Ba và Pavlou, 2002). Nghiên cứu gần đây đa phần định nghĩa sự tin tưởng là kỳ vọng các cá nhân hoặc công ty khác sẽ cư xử có đạo đức và đáng tin cậy và sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết như mong đợi của họ trong các điều kiện dễ bị tổn thương và phụ thuộc lẫn nhau (Gefen, 2000). Trong bối cảnh bài nghiên cứu này, ứng dụng thanh toán di động được mở rộng từ dịch vụ thanh toán trực tuyến dựa trên PC tương ứng. Do chúng thuộc cùng một công ty và cung cấp các dịch vụ tương tự, thanh toán trực tuyến mẹ và thanh toán di động mở rộng có thể được coi là các sản phẩm tương tự trong cùng một danh mục.
Ban đầu, người dùng có thể tin tưởng vào thanh toán trực tuyến bằng cách tương tác thường xuyên với dịch vụ và sau đó áp dụng nhận thức của họ về thanh toán trực tuyến để đánh giá thanh toán di động (Delgado-Ballester và Hernandez-Espallardo, 2008). Theo đó, sự tin tưởng của người dùng vào nhà cung cấp của thanh toán trực tuyến đã được thiết lập tốt có thể ảnh hưởng đến sự tin tưởng của họ đối với ứng dụng thanh toán di động. Lu và cộng sự (2011) và Wang và cộng sự (2013) phát hiện ra rằng sự tin tưởng của người dùng 11 vào các dịch vụ trực tuyến của một nhóm có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự tin tưởng của họ đối với ứng dụng di động của các dịch vụ đó. Sự hài lòng (Satisfaction) Sự hài lòng thường được coi là một đánh giá trước đây về trải nghiệm của người tiêu dùng đối với dịch vụ và được coi là cảm giác tích cực, sự thờ ơ hoặc cảm giác tiêu cực (Anderson 1979).
Sự hài lòng của khách hàng là tổng cảm nhận về trải nghiệm sử dụng của người tiêu dùng khi sử dụng thanh toán di động (Hsiao, 2015). Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa Yu & cộng sự (2018), sự hài lòng là phản hồi, đánh giá và cảm quan tích cực của người dùng sau những trải nghiệm của họ với thanh toán di động. CÁ C MÔ HÌNH NGHIÊ N CỨU LIÊ N QUAN 2. Mô hình nghiên cứu của Gefen (2003) Tác giả nghiên cứu ý định tiếp tục sử dụng CNTT của những người dùng đã có kinh nghiệm và bổ sung thêm yếu tố thói quen vào TAM nhằm trả lời cho hai câu hỏi: Một là, “Điều gìsẽ xảy ra với việc tiếp tục sử dụng CNTT giữa những người dùng có kinh nghiệm?” Hai là, “Liệu rằng thói quen của người dùng cũng đóng vai trò là yếu tố chính hay chỉ là việc tiếp tục sử dụng sản phẩm đạt được kỳ vọng?” Kết quả nghiên cứu cho thấy, theo giả thuyết, ý định tiếp tục sử dụng trang web mà họ mua lần cuối không chỉ phụ thuộc vào PU và PEOU mà còn phụ thuộc vào thói quen.