CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Dich vụ giao hàng 1. Khái niệm dịch vụ giao hàng Theo J.William Stanton (2010) định nghĩa: “Dịch vụ là những hoạt động vô hình có thể nhận dạng riêng biệt, về cơ bản mang lại sự thỏa mãn mong muốn và không nhất thiết phải bán một sản phẩm hoặc một dịch vụ khác”. Còn Adrian Payne (1995) cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt mang tính vô hình gan liền và liên quan đến sự tương tác của nhà cung cấp dịch vụ với khách hàng hoặc với tài sản thuộc về khách hàng.
Dich vụ không liên quan đến việc chuyên giao quyền sở hữu dau ra”. Như vậy, dịch vụ là sản phẩm của quá trình lao động của con người này nhằm thỏa mãn nhu cầu của những con người khác, nhưng không tôn tại hình thái vật thé và không dẫn đên việc chuyên giao quyên sở hữu như các sản phâm hữu hình. Theo Christian & France (2005) định nghĩa: “Giao hang là khoảng thời gian cần thiết dé gói hang đi từ trung tâm phân phối đến tận tay khách hàng”. Do đó, có thé định nghĩa dịch vụ giao hang (DVGH) là hoạt động thương mại để vận chuyền hàng hóa từ người bán đến người mua thông qua đơn vị vận chuyền.
Người bán sẽ sử DVGH để gửi hàng hóa và đưa đến địa điểm được thỏa thuận với khách hang đúng vào thời gian đã hẹn. Hàng hóa sẽ được vận chuyên qua các phương tiện vận tải như xe máy, ô tô, tàu,. nên thời gian vận chuyền hàng hóa là khác nhau. Hiện nay, tại các bưu cục, đơn vị vận chuyên cung cấp đa dạng các dịch vụ vận chuyên như: chuyền phát nhanh, chuyền phát thường, freeship, ship cod,.
nhằm thỏa mãn mọi đối tượng khách hàng, và đặc điểm của hàng hóa. Đặc điểm của dịch vụ giao hàng Theo Stank và cộng sự (2001); Kotler và cộng sự (2019) đã đưa ra cái nhìn tổng quan về các đặc điểm của dịch vụ giao hàng (DVGH) dưới góc độ quan lý chuỗi cung ứng và marketing để phân biệt với các dịch vụ khác: - Tinh khách quan: DVGH có tính khách quan cao, tức là khách hàng có thé đánh giá một cách dễ dàng chất lượng của dịch vụ bằng các yếu tố như đúng hen, an toàn, hoàn thiện. - Tinh khả năng tùy biến: DVGH có tính khả năng tùy biến cao, có thé đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Khách hàng có thể yêu cầu các dich vụ khác nhau như giao hàng nhanh, giao hàng cần thận.
- Tính không tách rời: DVGH không thê tách rời với những quy trình khác trong chuỗi cung ứng. Nó phụ thuộc vào các yếu tố như địa điểm, thời gian, sản phẩm, thông tin khách hàng, vận chuyền. - Tinh liên quan đến kết quả: DVGH liên quan trực tiếp đến kết quả, tức là khách hàng đánh giá dịch vụ bang kết quả nhận được. Kết quả này có thé được đo lường bằng thời gian, chỉ phí và chất lượng.
- Tinh cạnh tranh: DVGH là một thị trường cạnh tranh, với nhiều đối thủ cung cấp dịch vụ vận chuyền. Khách hàng có nhiều sự lựa chọn và sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp DVGH đây mạnh việc cải thiện chất lượng và giảm giá thành để thu hút khách hàng. - Tính thời gian thực: DVGH thường được yêu cầu với tính thời gian thực cao, tức là khách hàng mong muốn hàng hóa của mình được giao trong thời gian ngắn nhất có thé. Vì vậy, DVGH cần phải đảm bảo thời gian giao hang đúng hẹn, nhanh chóng và đảm bảo tính an toàn của hàng hóa.
Chat lượng dịch vụ giao hang Có nhiều định nghĩa khác nhau về chat lượng dịch vụ (CLDV), tuy nhiên phan lớn các định nghĩa đều nhắn mạnh đến sự đáp ứng của dịch vụ đối với mong đợi và nhu cầu của khách hàng. Theo Parasuraman, Zeithaml và Berry (1988) cho rang CLDV là su khác biệt giữa mong đợi và đánh giá của khách hàng về các tiêu chí đánh giá dịch vụ như độ tin cậy, trung thực, sự ân cần và tận tâm của nhân viên, khả năng giải quyết vấn dé,. Còn Gronroos (1984) định nghĩa CLDV là mức độ mà dịch vụ dap ứng được nhu cầu của khách hàng, cả về kỹ thuật và phi kỹ thuật. Đồng thời, CLDV cũng phải được đánh giá từ quan điểm của khách hàng.
Tóm lại, CLDV là một khái niệm đa chiêu, bao gôm nhiêu yêu tô như độ tin cậy, sự trung thực, sự tận tâm của nhân viên, khả năng giải quyét vân dé và thỏa mãn yêu câu của khách hàng. Chất lượng dịch vụ giao hàng là mức độ mà dịch vụ giao hàng thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng trong quá trình vận chuyên hàng hóa từ nguồn gốc đến đích. Nó bao gồm nhiều yếu tố, bao gồm độ chính xác, độ tin cậy, tốc độ giao hàng, tính linh hoạt, tính đồng bộ, tính tiện ích và độ hài lòng của khách hàng. Nếu CLDV tốt sẽ giúp khách hàng cảm thấy hài lòng, tăng sự tin tưởng và trung thành của khách hàng, đồng thời cũng giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Mối quan hệ giữa chất lượng dich vụ và sự hài lòng của khách hàng 1. Khái niệm sự hài lòng của khách hàng Có nhiều nhận định và tranh luận về định nghĩa “Sự hài lòng của khách hàng”. Trong đó, Fornell (1995) cho rằng “Sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá tích cực của người tiêu dùng về một sản phẩm hoặc dịch vụ, dựa trên so sánh giữa mong đợi của họ và kết quả thực tế mà họ nhận được. Nếu kết quả thực tế đạt hoặc vượt qua mong đợi của khách hàng, họ sẽ cảm thấy hài lòng.
Tuy nhiên, nếu kết quả thực tế không đạt mong đợi, khách hàng sẽ cảm thấy không thỏa mãn”. Zeithalm & Bitner (2000) định nghĩa “Sự hài lòng của khách hàng là một trạng thái tích cực của khách hàng khi họ đánh giá sản pham/dich vụ mà ho nhận được dap ứng hoặc vượt qua mong đợi của họ. Sự hài lòng được đánh giá dựa trên đánh giá của khách hàng về CLDV, giá cả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tính tiện lợi và những yếu tố khác”. Như vậy, có thể định nghĩa “Sự hài lòng của khách hàng” là cảm nhận của khách hàng sau khi trải nghiệm sản pham/dich vu dựa trên sự so sánh các yếu tố khác nhau của sản phẩm, dịch vụ đó.
Nếu khách hàng cảm thấy giá trị nhận được vượt qua kỳ vọng của họ, họ sẽ cảm thấy hài lòng và có khả năng tiếp tục mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp đó trong tương lai. Bởi vì khi thỏa mãn được người tiêu dùng, họ sẽ gắn bó lâu dài với dịch vụ, đồng thời giúp doanh nghiệp cải thiện điểm yếu và tiếp tục phát huy những điểm mạnh. Do đó, sự hài lòng của người sử dụng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng doanh thu, tiết kiệm chi phí quảng bá và có vị trí ưu tiên giữa các đối thủ cạnh tranh. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng Có thé nói CLDV là cơ sở dẫn đến sự hài long (Cronin va Taylor, 1992) và còn là nhân tố góp phan thỏa mãn nhu cầu khách hàng (De Ruyter, Bloemer, va Peeters, 1997).
Ngày nay, tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt hơn, khách hàng ngày càng có nhiều sự lựa chọn hơn để mua hàng vì vậy việc tìm hiểu mối quan hệ giữa CLDV giao hang va sự hài lòng của khách hàng là rất quan trọng. Zeithalm và Bitner (2000) cho rằng “Các nhân té chất lượng sản phẩm, CLDV, giá cả, các yếu tố tình huống, yếu tố cá nhân có tác động đến sự hài lòng của khách hàng”. Các nhà kinh doanh dịch vụ luôn có gắng tìm cách đo lường CLDV mà doanh nghiệp cung ứng đã đáp ứng doi hỏi của khách hang ở mức độ nào và tìm cách cải thiện nó đề nâng cao sự thỏa mãn của người dùng. Từ đó, xuất hiện nhiều nghiên cứu về cách đo lường đánh giá CLDV.
Chất lượng dịch vụ giao hàng được thé hiện qua việc thỏa mãn nhu cầu của người dùng trong quy trình giao hàng, sự tương tác giữa doanh nghiệp và người dùng, cũng như các ưu đãi dành cho khách hàng trong việc vận chuyên hàng hóa. Những yếu tố này cũng được đề cập trong mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vu logistics cua Stank và cộng sự (2003). Mô hình đánh giá chất lượng dịch vu 1. Mô hình nghiên cứu nước ngoài a.
Mô hình đo lường chất lượng kỹ thuật/chức năng của Gronroos (1984) Theo mô hình này, chất lượng kỹ thuật (liên quan đến những dịch vụ được cung cấp là gì) và chất lượng chức năng (mô tả dịch vụ được cung cấp thế nào hay làm thế nào khách hàng nhận được kết quả chất lượng kỹ thuật) được xem như là hai yếu tố có tác động đến việc hình thành nên “hình ảnh” của doanh nghiệp va dịch vụ trong nhận thức của khách hàng. Các hoạt động tiếp thị truyền thống (quảng cáo, PR, giá cả) va các ảnh hưởng bên ngoài (tap quán, ý thức, truyền miệng.) Chất lượng chức năng Hình 1. Mô hình đánh giá chất lượng kỹ thuật/chức năng của Gronros (Nguồn: Tác gid tong hop) Ung dung quan trọng nhất của mô hình là ở phát hiện răng, CLDV phụ thuộc vào đồng thời chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh công ty, trong đó, chất lượng chức năng (cung ứng dịch vụ theo cách như thế nào) quan trọng hơn chất lượng kỹ thuật (cung ứng dịch vụ gì). Tuy nhiên, cách đề đo lường chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng là hạn chế của mô hình.
Năm 1990, Gronroos đã tiễn hành nghiên cứu bổ sung và đưa ra sáu nhân tố đo lường chất lượng dich vụ theo sáu nhóm tiêu chi: tính chuyên nghiệp, thái độ phục vu, tính linh hoạt, tính đáng tin cậy, tính tín nhiệm và khả năng sửa chữa dịch vụ. Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985)- mô hình SERVQUAL Đây là nghiên cứu rộng rãi nhất về CLDV, vì nó có định hướng khách hàng rất rõ rệt. Nhóm tác giả cho rằng: “CLDV là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hang và nhận thức cua họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”.