Đặt vấn đề Chi Lan Kim tuyến Anoectochilus, thuộc họ Lan (Orchidaceae) có khoảng 40-50 loài, được biết đến không chỉ bởi giá trị làm cảnh, mà còn bởi giá trị làm thuốc. Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu Dược cổ truyền thành phố Phúc Kiến, Trung Quốc về y dược cổ truyền Trung Quốc thì chi Lan Kim tuyến được mệnh danh là “Vua của thuốc” với hoạt chất kinsenoside được dùng để điều trị bệnh tiểu đường, làm tan khối u, giảm lipase huyết, chữa viêm gan, viêm phế quản, phong thấp, đau nhức xương khớp. Ở Việt Nam, các loài Lan Kim tuyến phân bố rộng nhưng với số lượng cá thể không nhiều, tái sinh chậm và đòi hỏi điều kiện sống ngặt nghèo. Hiện tại, ở nước ta đã thống kê được 12 loài lan Kim tuyến (Phạm Hoàng Hộ, 2000), trong đó Anoectochilus setaceus Blume (tên đồng nghĩa: Anoectochilus roxburghii Wall.
Ex Lindl) là loài thường gặp nhất và có giá trị thương mại cao gấp hàng chục lần các loài khác. Lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) được coi là một vị “thần dược” vì có tác dụng chữa bệnh khá đa dạng như: điều trị lao phổi, ho phế nhiệt, viêm khí quản, phong thấp, đau nhức xương khớp, tiểu đường, ung thư, viêm gan mãn tính, tim mạch, tăng cường thể lực, trị rắn độc cắn (Xia -Xue Wang và cộng sự, 2011). Trong tự nhiên, khả năng tái sinh chồi của Lan Kim tuyến từ thân, rễ, hạt kém, cây sinh trưởng rất chậm. Hiện nay, ở Việt Nam do bị người dân khai thác, thu hái tự phát để bán làm thuốc nên Lan Kim tuyến đang bị đe dọa nghiêm trọng, có nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên.
Lan Kim tuyến được xếp trong nhóm IA của Nghị định 32/2006/CP (nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại) và nhóm thực vật đang nguy cấp EN A1a, c, d trong sách đỏ Việt Nam (Bộ khoa học và công nghệ, 2007), cần bảo tồn các quần thể nhỏ còn sót lại ở các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn thiên nhiên, cũng như cần 1 nghiên cứu nhân giống để gieo trồng tạo hàng hóa xuất khẩu và bảo vệ nguồn gen. Cho đến nay cũng đã có một số chương trình nghiên cứu về nhân giống nuôi cấy mô Lan Kim tuyến trong và ngoài nước được thực hiện bởi các tác giả như Gangaprasad A và cs. (2000), Yih-Juh Shiau và cs. (2001), Phùng Văn Phế và cs.
(2010), Nguyễn Tuấn Anh và cs. Tuy nhiên, trên cơ sở các chương trình nghiên cứu nhân giống nuôi cấy mô đã được thực hiện thành công, cần có nghiên cứu đánh giá kỹ hơn về sự ảnh hưởng của các yếu tố tác động để có thể đạt kết quả tối ưu. Do đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu nhân giống In vitro cây Lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) tại Gia Lâm, Hà Nội” với mục đích nhằm bảo tồn và phát triển loài Lan quý hiếm này. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích Nghiên cứu một số biện pháp kĩ thuật nhằm góp phần xây dựng được quy trình nhân giống cây Lan kim tuyến bằng phương pháp In vitro từ giai đoạn nhân nhanh tới giai đoạn ra rễ trong phòng nuôi cấy mô và ra cây ngoài vườn ươm. Yêu cầu - Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP và NAA tới khả năng tái sinh chồi. - Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến khả năng nhân nhanh của Lan Kim tuyến - Nghiên cứu ảnh hưởng của than hoạt tính tới sự ra rễ của Lan Kim tuyến - Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tới khả năng sinh trưởng của Lan Kim tuyến ra ngoài vườn ươm. - Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường ra rễ đến sự sinh trưởng của cây con ngoài vườn ươm 2 3 PHẦN II.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về Lan Kim tuyến Chi Anoectochilus thuộc họ Lan có hơn 51 loài có mặt ở hầu khắp các nước nhiệt đới trải dài từ dãy Himalaya của Ấn Độ đến vùng Đông Nam Á và kéo dài tới Hawai. Trong chi Anoectochilus có một số loài được sử dụng để làm thuốc ở Trung Quốc như: A. koshunensis Hayata và A.
Trong các loài này thì hai loài A. formosanus Hayata và A. koshunensis Hayata chỉ phân bố ở Đài Loan và Okinawa-Nhật Bản. roxburghii phân bố ở miền Nam Trung Quốc, Nhật Bản, Srilanka, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam (Zhong HJ và cs.
Lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) phân bố ở các nước Châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Sri Lanka, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam… Ở Việt Nam thống kê được 12 loài thuộc chi Lan Kim tuyến Anoectochilus, với loài Lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) phân bố tại Huế, Tam Đảo, Lào Cai, Quảng Trị, Kon Tum, Gia Lai. Chúng mọc rải rác trong rừng núi đá vôi, nơi ẩm, dọc theo khe suối, ở độ cao 300-1800m. Ở Việt Nam, loài Lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) chủ yếu được biết đến với công dụng làm thuốc. Cây Lan Kim tuyến ngoài tự nhiên (Anoectochilus setaceus Blume) (Nguồn: Phí Thị Cẩm Miện, 2012) 4 2.
Phân loại Lan Kim tuyến (tên gọi khác: Kim tuyến Tơ, Giải Thủy Tơ, Sứa Hồng, Lan Gấm, Cỏ Nhung) có tên khoa học là: Anoectochilus setaceus Blume Chi: Kim tuyến (Anoectochilus) Họ: Phong Lan (Orchidaceae) Bộ: Phong Lan (Orchidales) Lớp: Một lá mầm (Monocots) Ngành: Hạt Kín (Angiospermae) Giới: Thực vật (Plantae) 2. Đặc điểm hình thái 2. Thân Cây thân thảo, mọc ở đất có thân rễ mọc dài; cây cao 10 - 20 cm, thân màu tím, mọng nước, phần cây non có nhiều lông mềm, mang 2 - 6 lá mọc cách, xòe trên mặt đất. Gồm các bộ phận: thân rễ, thân khí sinh, rễ, lá, hoa và quả.
Thân rễ nằm ngang sát mặt đất, thường có màu xanh trắng, đôi khi có màu nâu đỏ, thường nhẵn, không phủ lông. Chiều dài từ 5 - 12 cm. Đường kính từ 3- 4 mm, trung bình là 3,17 mm. Số lóng trên thân rễ từ 3 - 7 lóng, trung bình là 4,03 lóng, với chiều dài của lóng từ 1 - 6 cm.
Thân khí sinh thường mọc thẳng đứng trên mặt đất, thường mọng nước, nhẵn, không phủ lông, thường có màu xanh trắng, đôi khi có màu hồng nhạt. Chiều dài thân khí sinh từ 4 - 8 cm. Đường kính thân khí sinh từ 3 - 5 mm. Thân khí sinh mang nhiều lóng, số lóng trên thân khí sinh thay đổi từ 2 - 4 lóng.
Chiều dài lóng từ 1 - 4 cm (Phí Thị Cẩm Miện, 2012). Thân Lan Kim tuyến (Nguồn: Phí Thị Cẩm Miện,2012) 2. Rễ Rễ được mọc ra từ các mấu trên thân rễ, đôi khi rễ cũng được hình thành từ thân khí sinh. Rễ thường đâm thẳng xuống đất.
Thông thường mỗi mấu chỉ có một rễ, đôi khi có vài rễ cùng được hình thành từ một mấu trên thân rễ. Số lượng và kích thước rễ cũng thay đổi tùy theo cá thể. Số rễ trên một cây thường từ 3 – 10 rễ. Chiều dài của rễ thay đổi từ 0,5 – 8 cm, rễ dài nhất trung bình là 6,07 cm và ngắn nhất là 1,22 cm (Phí Thị Cẩm Miện, 2012).
Rể Lan Kim tuyến 2. Lá Lá mọc cách xoắn quanh thân, xòe trên mặt đất, hình trứng, gần tròn ở gốc, nhọn ở đầu và có mũi ngắn, dài 3 - 4 cm và rộng 2 - 3 cm. Lá có màu nâu đỏ ở mặt trên và phủ lông mịn như nhung, trên mỗi chiếc lá có 3 - 5 sọc gân dọc, 6 mặt trên màu nâu thẫm có vệt vàng ở giữa và màu hồng nhạt trên các gân, mặt dưới màu nâu nhạt. Cuống lá dài 2 - 3 cm, thường nhẵn và có màu trắng xanh, đôi khi hơi đỏ tía ở bẹ lá.
Bẹ lá nổi rõ và nhắn. Số lá trên cây thay đổi từ 2 – 6 lá, thông thường có 4 lá. Kích thước của lá cũng thay đổi. Các lá trên một cây thường có kích thước khác nhau rõ rệt (Phí Thị Cẩm Miện, 2012).
Lá Lan Kim tuyến 2. Hoa và quả Hoa dạng cụm dài 10 - 20 cm ở ngọn thân, mang 4-10 hoa mọc thưa. Lá bắc hình trứng, dài 6 - 10 mm, màu hồng, các mảnh bao hoa dài khoảng 6 mm; cánh môi màu trắng dài đến 1,5 cm, ở mỗi bên gốc mang 6 - 8 dải hẹp, chẻ đôi thành 2 thuỳ hình thuôn tròn. Bầu dài 13 mm, có lông thưa.
Mùa hoa nở vào tháng 10 - 12. Mùa quả chín từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau (Phí Thị Cẩm Miện, 2012). Hoa Lan Kim tuyến 2. Điều kiện sinh thái và phân bố Lan kim tuyến sinh trưởng trên các triền núi đá vôi, dọc theo khe suối, dưới các tán cây to trong rừng ẩm ở độ cao 500 – 1600m.
Cây ưa độ ẩm cao và basong râm, kị ánh sáng, yêu cầu đất nhiều mùn, tơi xốp, thoáng khí (Liu, Su, 1978 và Teuscher, 1978). Chúng thường mọc rải rác hoặc thành các đám nhỏ lẫn trong lớp thảm mục hoặc ở hốc đá, dưới tán rừng kín thường xanh ẩm. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm, chịu được thời tiết có sương mù dài ngày. Khí hậu nơi loài lan kim tuyến phân bố thuôc khí hậu nhiệt đới ẩm.
Lượng mưa trung bình năm là 1,826 mm. Độ ẩm không khí trung bình 85%. Nhiệt độ trung bình năm từ dưới 20ᵒC đến 22ᵒC - 23ᵒC. Tại Việt Nam, Lan Kim tuyến phân bố ở Lào Cai (Sa Pa: Phan Xi păng, Văn Bàn: Liêm Phú), Hà Tĩnh (Hương Sơn: Rào An), Quảng Trị, Kom Tum (Đắk Glie: núi Ngọc Linh, Sa Thầy: núi Chư Mom Ray), Đắk Lắk (Không Bông: núi Chư Yang Sinh), Lâm Đồng (Lạc Dương: núi Bà Đúp).
Trên thế giới, Lan Kim tuyến phân bố ở Ấn Độ, Nepal, Butan, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malayxia, Indonesia. Giá trị của cây Lan Kim tuyến Lan Kim tuyến có tác dụng tăng cường sức khỏe, làm khí huyết lưu thông, có tính kháng khuẩn, chữa các bệnh viêm khí quản, viêm gan mãn tính, chữa suy nhược thần kinh. Loài này được dùng làm thuốc chữa bệnh lao phổi, phong thấp, đau nhức xương khớp, viêm dạ dày mãn tính (Nguyễn Tiến Bân, Dương Đức Huyến, 2012). Trước đó, Lan Kim tuyến là một trong những thảo dược quý giá, giúp bổ máu, dưỡng âm, chữa nóng phổi và nóng gan (Tạ A Mộc và Trần Kiến Đào, 1958).
Hơn nữa mới đây người ta đã phát hiện ra khả năng chống ung thư của loài thảo dược này. Theo các tài liệu của Trung Quốc mới công bố gần đây bằng kỹ thuật sắc ký lỏng, sắc ký cột vã kỹ thuật quang phổ đã phân lập, xác định được cấu trúc 8 hóa học và thử hoạt tính sinh học của một số hợp chất trong Lan Kim tuyến (Dương Đức Chiến, 2014) kỹ thuật quang phổ đã xác định được 8 hợp chất hóa học.