mở đầu cho những nghiên cứu thực nghiệm sau này tại Việt Nam. Trong các năm từ 1986 đến 1988 Lê Đình Khả và cộng sự đã thử nghiệm giâm hom cho cây Mỡ một năm tuổi cho thấy trong bốn chất kích thích ra rễ thì công thức xử lí với dung dịch 2.4D nồng độ 50ppm trong 3 giây và IAA nồng độ 50ppm ngâm trong 5 giờ cho tỉ lệ ra rễ thấp hơn I A và NAA. Các tác giả cũng chỉ ra rằng tuổi cây mẹ lấy cành cũng ảnh hƣởng lớn tới tỉ lệ ra rễ của hom nhƣ: Cây mẹ một tuổi cho hom có tỉ lệ ra rễ là 98.4%, cây mẹ 2 tuổi tỉ lệ ra rễ là 51.5%, cây mẹ tuổi thì tỉ lệ ra rễ chỉ còn 14%. Năm 1992, Dƣơng Mộng Hùng đã giâm hom thành công cây Phi lao 16 đến 18 năm tuổi với tỉ lệ ra rễ rất cao, đạt 76,6% trong đó I A có hiệu quả cao hơn IAA.
Năm 1994, trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã giâm hom thành công cây Phi lao 20 năm tuổi, trong đó tỉ lệ ra rễ của chồi đạt 66.6% còn của cành đạt 46. Ngoài ra trung tâm còn cho biết hom cây thông 8 tuổi cho tỉ lệ ra rễ đạt 100% khi xử lý với thuốc IBA 150ppm ngâm trong 6 - 8 giờ. Trong khi hom cành 2 tuổi, 20 tuổi cho tỉ lê ra rễ thấp hơn, còn với cây 50 tuổi thì không ra rễ. Năm 1995, tác giả Phạm Văn Tuấn và đồng nghiệp thử nghiệm với cây Keo lai cho biết mặc dù các dòng vô tính có tỉ lệ ra rễ khác nhau song tỉ lệ ra rễ này khá ổn định theo mùa.
Cùng thời gian này các nhóm tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Cự tiến hành giâm hom cây Thông Đỏ tại trạm Ba Vì, sau 4 tháng giâm hom với một số chất nhƣ: A T, I A, IAA ở dạng nồng độ là 0.5; 2% và thu đƣợc IBA cho kết quả tốt nhất. 7 Năm 2006, Đặng Thái Dƣơng nghiên cứu giâm hom cành cây Sở (Camelia sasaqua Thumbet Marray) nghiên cứu ảnh hƣởng của 2 nhân tố thuốc và điều kiện giâm hom, sau khi so sánh kết quả giâm hom với thuốc NAA nồng độ 0.05% trong nhà giâm hom đạt tỉ lệ cao nhất 85.2% Nhìn chung cho tới nay đã có rất nhiều công trình nhân giống bằng hom cho các loài cây khác nhau đều cho kết quả khả quan. Có thể thấy rằng phƣơng pháp nhân giống bằng hom là một phƣơng pháp tƣơng đối đơn giản và mang lại kết quả cao và còn có thể áp dụng trên diện rộng. Hiện nay, có nhiều loại cây quý hiếm có khả năng phát triển tốt song nguồn hạt không đáp ứng đủ nhu cầu nhân giống hoặc hạt có khả năng nảy mầm thấp do đó phƣơng pháp nhân giống bằng hom tỏ ra khá thích hợp nên đƣợc áp dụng nhiều.2 Cơ sở tế bào của việc hình thành rễ bất định Trong các biện pháp sinh sản vô tính, giâm hom là hình thức phổ biến nhất và là một trong những công cụ có hiệu quả trong việc lƣu trữ, bảo vệ và duy trì cây giống bởi chúng có các đặc điểm sau: - Nhân giống bằng hom có hệ số nhân giống lớn, tƣơng đối rẻ tiền nên đƣợc dùng phổ biến trong nhân giống rừng, cây cảnh và cây ăn quả.
- Giâm hom có thể dùng hom thân, hom cành, hom rễ sử dụng những nguyên liệu sẵn có, dễ làm dễ thao tác. - Cây hom mặc dù không giữ đƣợc các đặc trƣng hình thái giải phẫu nhƣng lại giữ đƣợc các đặc điểm di truyền của cây mẹ. Đặc biệt đối với một số cây lâm nghiệp có hình thức lai xa thì nó còn giúp giữ các tính trạng tốt ở đời F1, tránh phân ly ở đời F2 và nhƣ vậy chúng có hệ số biến động nhỏ hơn cây sinh sản hữu tính bằng hạt. Vấn đề có ý nghĩa quyết định đến giâm hom là các hom ra rễ có thân cây sẽ đƣợc hình thành từ chồi bất định.
Có thể hiểu đƣợc rễ bất định đến giâm hom là rễ sinh ra ở bất kì bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ chính của nó, rễ bất định có thể sinh ra tự nhiên. Có hai loại rễ bất định là rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh: 8 + Rễ tiềm ẩn là rễ có nguồn gốc tự nhiên trong thân, cành cây nhƣng chỉ phát triển khi đoạn thân, đoạn cành tách khỏi thân cây + Rễ mới sinh ra là loại rễ chỉ hình thành khi đƣợc cắt hom, nó là hậu quả của phản ứng với vết cắt. Nghĩa là khi cắt hom thì các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ đƣợc hở ra và gián đoạn các chất dinh dƣỡng đƣợc tổng hợp từ ngọn lá đi xuống tới chỗ vết cắt. Quá trình nguyên phân sảy ra theo ba bƣớc tạo thành các mô sẹo, là cơ sở của sự hình thành một lớp tế bào bị thối trên bề mặt, vết thƣơng đƣợc đậy lại bằng lớp keo bảo vệ, lớp keo bảo vệ này giúp mặt cắt khỏi bị thoát hơi nƣớc.
Các tế bào sống ở ngay dƣới lớp tế bào bảo vệ, lớp tế bào bảo vệ đó bắt đầu phân chia sau khi vết cắt đƣợc vài ngày và có thể hình thành một lớp mô mềm Các tế bào lân cận của vùng thƣợng tầng mạch và libe gỗ bắt đầu hình thành rễ bất định. Chính vì vậy việc giâm hom cành để hình thành bộ rễ mới là quan trọng nhất, sau đó là số lƣợng rễ/hom và chiều dài rễ.3 Cơ sở sinh lý của việc hình thành rễ bất định Có rất nhiều các nhân tố ảnh hƣởng đến tỉ lệ ra rễ cũng nhƣ chất lƣợng của cây hom trong quá trình giâm hom, nhƣng về cơ bản chúng đƣợc chia thành hai nhóm nhƣ sau: nhóm nhân tố nội sinh và nhóm nhân tố ngoại sinh.1 Các nhân tố nội sinh - Đặc điểm di truyền của loài Đặc điểm di truyền của loài là một nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến sự ra rễ của hom. Có những loài dễ ra rễ, cũng có những loài khả năng ra rễ kém, do đó khi tiến hành giâm hom cần lƣu ý đến các yếu tố này để đem lại hiệu quả. Theo nghiên cứu của D.Martin, 1974 ; Nanda, 1970 đều đi đến kết luận chung nhất là: các loài cây khác nhau thì có đặc điểm ra rễ khác nhau.
Các tác giả này đã dựa vào khả năng ra rễ để chia cây gỗ thành 3 nhóm chính: + Nhóm dễ ra rễ: bao gồm các loài cây không cần xử lý các chất kích thích ra rễ mà vẫn có tỷ lệ ra rễ cao nhƣ: Đa, Sung, Tre, Nứa, Liễu,… 9 + Nhóm ra rễ trung bình: bao gồm các loài cây chỉ cần xử lý chất kích thích ra rễ với nồng độ thấp cũng có thể ra rễ với tỷ lệ cao nhƣ: Samu, ạch đàn, Phi lao,… - Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ từng cá thể Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ, các cá thể khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau. Theo kết quả của Viện hàn lâm khoa học Lâm nghiệp (1988-1989), nghiên cứu nhân giống bằng hom cho Bạch đàn trắng 4 tuổi cho thấy: xuất xứ Katherine có tỷ lệ ra rễ cao nhất là 95%, xuất xứ Gilbert River là 50%, trong khi đó xuất xứ Nghĩa ình có tỷ lệ ra rễ chỉ đạt 35%. Thí nghiệm giâm hom Phi lao một năm tuổi cho kết quả: trong 15 cây lấy hom, 9 cây ra rễ 100%, 5 cây ra rễ 50-87%, 1 cây ra rễ 20%. Từ các số liệu trên có thể thấy: không những loài cây khác nhau mà trong cùng một loài có xuất xứ, dòng và các cá thể khác nhau cũng cho tỷ lệ hom ra rễ khác nhau.
- Đặc điểm cá thể Trong một xuất xứ các cá thể khác nhau cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau - Tuổi mẹ và tuổi cành lấy hom Tuổi cây mẹ và tuổi cành vật liệu lây hom ảnh hƣởng tới sự ra rễ của hom nhất là với những loài khó ra rễ, cây mẹ càng già thì tỉ lệ ra rễ càng giảm. Mỗi loài cây đều có ngƣỡng tối đa ra rễ nếu hom ấy từ cây mẹ quá già thì khả năng ra rễ thấp thập chí không ra rễ. Tuổi của cành cũng ảnh hƣởng tới tỉ lệ ra rễ của hom. Hom ở trong giai doạn nửa hóa gỗ là thích hợp cho ra rễ.
Hom non rễ bị tối rữa, hom già thì khó ra rễ. - Vị trí lấy hom trên cành Hom lấy ở vị trí khác nhau trên cây cũng có khả năng ra rễ khác nhau ngay cả việc lấy hom ở các vị trí khác nhau trên cùng một cành thì tỉ lệ ra rễ cũng có sự chênh lệch. Do đó, cần xác định vị trí lấy hom cho mỗi loài. Thông thƣờng, các hom lấy ở phần gốc dễ ra rễ hơn các hom lấy ở phần ngọn.
Hom lấy 10 ở cành bẹn tốt hơn hom lấy ở trục chính, tốt nhất là lấy cành hƣớng Đông Nam, Nam và Tây Nam. Trên cùng một cành, vị trí lấy hom khác nhau đẫn tới tỉ lệ ra rễ cũng rẽ khác nhau hom mang chồi lá dễ ra rễ hơn mang chồi hoa. Đối với mỗi loài cây khác nhau thì ngƣời ta chọn hom ở vị trí khác nhau. Trong kĩ thuật giâm hom, đa số các loài cây ta nên chọn hom ở trạng thái hom bánh tẻ.
- sự tồn tại của lá trên hom Lá là cơ quan quang hợp để tạo ra các chất hữu cơ cho cây. Trong giâm hom lá trên hom ảnh hƣởng rất nhiều tới sự thành công. Lá giữ vai trò tạo ra mô phân sinh ở rễ ở các hom chƣa hóa gỗ, lá thoát hơi nƣớc khuyếch tán các chất kích thích ra rễ của hom. Lá cũng là cơ quan điều tiết các chất điều hòa sinh trƣởng của hom giâm, vì thế cắt hom cần phải để lại một phần lá nhất định.
Không có lá thì hom sẽ không thể ra rễ, mà để lại nhiều lá thì hom sẽ bị héo và chết trƣớc khi ra rễ. Nên để lại 1-2 lá, và cắt bớt 2/3 diện tích lá là hợp lý. - Kích thƣớc hom Đƣờng kính và chiều dài của hom cũng ảnh hƣởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Theo Dasin, 1984 cho rằng kích thƣớc hom quá nhỏ hoặc quá lớn đều ảnh hƣởng không tốt tới quá trình hình thành rễ của hom.
Đối với những hom quá to, nhất là đối với những hom ngọn, tế bào có sức chịu đựng kém, dễ mất nƣớc làm cho hom thối hoặc có ra rễ thì số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng không cao, nếu hom quá nhỏ thì quá trình tích lũy chất dinh dƣỡng để hình thành rễ sẽ không đảm bảo khiến hom yếu, thiếu sức sống.