MỞ ĐẦU CHƯNG I: Cơ sở lí luận Ư CH2: NgữƠ Anh tiếngG điệu N CHƯƠNG 3: Ngữ điệu tiếng Anh ở người Việt KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO Pou LUC CHUONG | CO SO LI LUAN 1. Dan nhap: Trong khi dién dat, khong chỉ có những từ kết hợp với nhau theo quy luật ngữ pháp. Trong học ngoại ngữ, không phải chỉ tập thể hiện từng âm vị, tức là phát âm đúng từ là đủ mà còn có sự liên kết các từ theo nhịp nhanh, chậm, nhấn âm làm nổi bật thông tin, lên xuống giọng để diễn đạt ý nghĩa của PN. Tất cả những yếu tố này thường được gọi là các sự kiện ngôn điệu, hay thuộc về ngữ điệu.
How old are you? (1) (Bạn bao nhiêu tuổi?) ĐỨNG o B.) S^ O © Trong PN nghi vấn có từ dé hỏi (1), vì chủ thể PN A muốn biết tuổi của người tiếp thu PN B nên A nhấn trong âm vào A.T /duld/ của từ “old” và xuống giọng từ vi trí đó. Do vay, trong PN trần thuật (2), B trả lời A bằng cách nhấn trọng âm vào A.T /twen- / của từ “twenty” và xuống giọng từ vị trí đó (Xem ngữ điệu diễn đạt 2 PN hỏi - trả lời ở (1và ) (2).) Hoặc: This is a pen. (3) (Đây là cái bút mực. Ngữ điệu và những khái niệm có liên quan: 1.
Nội dung thuat ngữ Ngữ điệu: Thuật ngữ “ngữ điệu” được nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới và Việt Nam hiểu và sử dụng tương đương với thuật ngữ “intonation”. Theo “The Linguistics Encylopedia, 2002, Routledge, London and New York” do Kirsten Malmkjaer biên soạn thì thuật ngữ trên được hiểu va giải thích như sau: - _ Ngữ điệu là thuật ngữ thường hay được sử dụng để diễn đạt sự biến đối cao độ của giọng nói diễn ra trong một chuỗi âm thanh lớn hơn A.T hoặc đơn vi từ. Hay nói cách khác, ngữ điệu thuộc PN. - Thông qua sự thể hiện biến doi cao độ giọng nói, cùng với cường độ, trường độ, sự ngưng nghi., chủ thể PN muốn diễn đạt một ý nghĩa nào đó trong tình huống giao tiếp nhất định nhưng không can phải sử dụng đến phương tiện từ vựng hoặc các phương tiện ngữ pháp mà người tiếp thụ PN vẫn có thể hiểu được.
Đó chính là sự hành chức của ngữ điệu. - C6 thể ngữ điệu trong mỗi ngôn ngữ có những nét đặc trưng nhưng giữa chúng van có những nét tương dong nhất định như cao độ, trường độ, sự ngưng nghỉ. và được xây dựng trên cơ sở từng DVND theo quy luật, đặc trưng của từng ngôn ngữ. - Cũng là sự biến đổi cao độ của giọng nói do tần số dao động của dây thanh tạo nên, nhưng cao độ của giọng nói thể hiện trong ngữ điệu trên cả một ngữ đoạn hoặc PN.
Còn cao độ của giọng nói thể hiện trong thanh điệu chỉ xuất hiện trên một A. Theo đó, chúng ta có thể thấy rằng hanh điệu thuộc A.T; trọng âm thuộc từ; ngữ điệu thuộc PN. Vậy, theo chúng tôi thì ngữ điệu là mot trong các hiện tượng ngôn điệu có tính tuyển điệu, được thể hiện bằng các thuộc tính vật lí cơ bản như cao độ, cường độ, và trường độ trong sự hoà kết để thể hiện chiêu hướng lên xuống của giọng nói theo chủ ý của chủ thể phát ngôn, kết hợp với nhịp điệu và ngưng nghỉ, hợp quy luậ t của từn g ngô n ngữ. Ng ữ điệ u có các chứ c năn g nhằ m giú p cho việ c _diễn đạt ngữ nghĩa thông qua cách dùng của nó trong từng tình huống cụ thé.
Ngữ điệu tiếng Anh cũng thuộc hệ thống ngữ điệu nói chung nhưng có nhữ ng cơ sở và đặc trư ng của ngô n ngữ Anh. để từ đó chú ng ta có thể phâ n biệt được ngữ điệu Anh với ngữ điệu của các ngôn ngữ khác. Đặc trưng điệu tính của ngữ điệu tiếng Anh: Như mọi người đều biết, ngoài việc diễn đạt thông tin trong giao tiếp bằng nghĩa của đơn vị từ để trả lời câu hỏi nói cái gì, chúng ta có thể diễn đạt thông tin không bằng nghĩa của đơn vị từ để trả lời câu hỏi nói cát gì như thế nào. Trong luận án này, chúng tôi quan tâm đến diễn đạt cái gì như thế nào là chính.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng, tác động đến nói như thế nao trong giao tiếp như ngữ điệu, nhịp điệu, trọng âm. nhưng trong tiểu mục này, chúng tôi chỉ miêu tả một số đặc trưng điệu tính cơ bản của ngữ điệu tiếng Anh: - Cao độ: Đây là một trong những đặc trưng điệu tính quan trọng nhất liên quan đến cao độ giọng nói qua việc thể hiện từng A.T trong một đơn vị từ, ngữ hoặc PN. Đồng thời cao độ cũng là một trong những đặc trưng điệu tính cơ bản nhất trong việc thể hiện ngữ điệu. Các cao độ khác nhau trong PN đã góp phần tạo ra đường nét ngữ điệu để cùng với ngữ điệu hạt nhân (chúng tôi sẽ trình bày chỉ tiết ở chương 2) biểu đạt một ý nghĩa nào đó, ví dụ: He 3$ ready.
Ó ~~ © (1) He’s ready? (Anh ấy san sàng chưa? o l6) oO” (2) Ngữ điệu trong (1) là ngữ điệu xuống, bắt đầu từ A.T không có trọng âm /hiz/ (của từ “He '$”) ở cao độ hơi thấp, sau đó nhấn trọng âm vào A.T /re-/ (của từ “ready”) ở cao độ trên TB, rồi xuống giọng và kết thúc đường nét ngữ điệu ở A.T không trong âm /-di/ (của từ “ready”) ở cao độ tương đối thấp. PN với ngữ điệu xuống như trong (1) đã thể hiện ý nghĩa hoàn thành, xác định và do đó là PN trần thuật.T không trọng âm, có trọng âm trong (2) cũng tương tự như trong (1), nhưng với ngữ điệu lên, bat dau từ A.T có trọng âm /re-/ (của từ “ready”) ở cao độ trên TB và kết thúc ở A.T không trọng âm /-di/ (của từ “ready”) ở cao độ tương đối cao. PN với ngữ điệu lên như trong (2) đã thể hiện ý nghi vấn, cần trả lời có/không và được gọi là PN nghi vấn. - Cường do: Cường độ được thể hiện tương đối da dạng bang lực hơi thở do chủ thể PN thể hiện trong một âm thanh hoặc chuôi âm thanh.
Nếu xét về bình diện ngôn ngữ học có liên quan đến cường độ. thì đó là trọng âm. - Trường độ: Đặc trưng điệu tính này liên quan đến khoảng thời gian chủ thể PN thể hiện trong từng A.T của một đơn vi từ, ngữ hoặc PN. Trường độ của âm thanh do thời gian rung động lâu hay chóng quyết định [29],[56],[86].
- Tốc do: Tốc độ của lời nói cũng quan trong nhưng ít tạo giá trị thong báo bởi lẽ nhiều khi do thói quen, có người nói nhanh, có người nói chậm, nhưng cũng có người nói nhanh, nói chậm do chủ ý, chẳng hạn Mic vui, phấn khích.: hay nói nhanh, lúc buồn. Theo khảo sát của chúng tôi, tốc độ nói tiếng Anh TB của người Việt là khoảng 6-7 A. Nếu căn cứ vào kết quả khảo sát thông qua các NBT thì TLV người Anh đọc và nói nhanh hơn một chút (khoảng 5-6 AT/1"). Một số khái niệm có liên quan đến ngữ điệu tiếng Anh: 1.
Chuyển dịch cao độ: Theo O’ Grady, Dobrovolsky, Katamba [123:46] thì “ Chuyển dich cao độ trong phát ngôn không liên quan đến các sự khác biệt về nghĩa cua từ thì được gọi là ngữ điệu”. Lấy từ teacher (giáo viên) làm ví dụ: Cho dù từ này được phát âm với giọng lên hay xuống thì vẫn không gây nên sự khác biệt về nghĩa của nó. Tuy nhiên, ngữ điệu lên hay ngữ điệu xuống trong trường hợp này đã lần lượt làm cho PN trở nên chưa hoàn thành hay hoàn thành, nói cách khác, làm cho PN trở thành nghi vấn hay trần thuật. Do vậy, người sử dụng ngữ điệu tiếng Anh tốt là người phải hiểu và có khả năng vận dụng các mẫu hình ngữ điệu tốt trong từng tình huống cụ thể.
Trọng âm từ: Chúng tôi quan niệm trọng âm từ là xuất phát điểm của việc nghiên cứu ngữ điệu tiếng Anh bởi lẽ trong tiếng Anh có nhiều từ đa tiết, mỗi từ có một A.T mang trọng âm. Nếu không xác định được A.T nào có trọng âm thì chủ thể PN không thể nói đúng và truyền đạt thông tin cho người tiếp thụ PN hiểu. Mặt khác, trọng âm từ liên quan mật thiết với ngữ điệu. khi nghiên cứu ngữ điệu tiếng Anh, chúng tôi bat đầu từ trọng âm từ của ngôn ngữ ấy.
- Trọng dm tit là một trong các hiện tượng điệu tính, xảy ra khi một A.T nào đó được nhấn mạnh hon, cao hon, dai hơn so với các A.T không có trọng âm khác vì mục đích nhấn mạnh thông tin. - Trọng âm từ gồm có trọng âm chính (O) (* ) và trọng âm phụ (,). Trọng âm từ của tiếng Anh là loại trọng âm bất biến, có nghĩa là khi trọng âm đã rơi vào từ nào đó thì chỉ rơi vào A.T nhất định của từ ấy. trong từ important (quan trong), bao giờ trọng âm cũng rơi vào A.T thứ hai của từ ay: important (o O o).
Trong quá trình thể hiện ngữ điệu bằng đồ hình, trong âm phụ không được chúng tôi tính đến. Như vậy, chúng tôi chỉ ghi tròn to (O) và tròn nhỏ (o) tương đương với trọng âm chính và không trọng âm. - Chúng tôi dé cập đến trọng âm từ vì trong ngữ điệu tiếng Anh người ta sẽ nhấn vào chỗ này hay chỗ khác của PN. Nhưng trong mọi trường hợp, trọng âm câu cũng trùng với trọng âm từ.T có trọng âm của (đơn vị) từ nào đó trong PN, người ta thấy có hiện tượng đường nét đi lên hoặc đi xuống, hoặc có sự kết hợp của cả hai để hợp thành đường nét đi lên - đường nét đi xuống, đường nét đi xuống - đường nét đi lên.Trong ngôn ngữ học, hoặc cụ thể hơn trong điệu vị học (Prosody), người ta gọi đường nét đi lên là mgữ điệu lên (rising intonation, hoặc rising tone, hoặc rising tune, hoặc rise), đường nét đi xuống là ngữ điệu xuống (falling intonation, hoặc falling tone, hoặc falling tune, hoặc fall).
Do vay, sự kết hợp của đường nét đi lên - đường nét đi xuống. đường nét di xuống - đường nét di lên được gọi là ngữ điệu lên — xuống, ngữ điệu xudng — lên. Quan trọng hon là mỗi khi có ngữ điệu như thế hành chức, nó đã thể hiện một nghĩa nào đó (như hỏi, khẳng định, hoàn thành.) thông qua cách dùng trong tình huống cụ thể. Mỗi đơn vị có ngữ điệu lên, hoặc xuống, hoặc lên — xuống, hoặc xuống - lên.
như vậy được gọi là don vị ngữ điệu (DVND) tiếng Anh. Mỗi DVND như thế đều xuất phát và dua vào một A.