Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Tây Nguyên gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, là địa bàn chiến lược về sản xuất cây công nghiệp và phát triển năng lượng thủy điện tại Việt Nam. Với tổng lượng mưa năm trung bình đạt xấp xỉ 2000 mm nhưng phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian, khu vực này thường xuyên gánh chịu các đợt hạn hán khốc liệt trong mùa khô và lũ quét vào mùa mưa. Trong thực tiễn nghiệp vụ khí tượng, công tác dự báo thời điểm bắt đầu mùa mưa tại Tây Nguyên phần lớn mới dừng lại ở hạn ngắn 10 ngày. Trong khi đó, nhu cầu điều hành kinh tế - xã hội đòi hỏi các bản tin dự báo hạn vừa và hạn dài có độ tin cậy cao hơn. Trước đây, nhiều quan điểm đồng nhất thời điểm bùng phát gió mùa mùa hè với ngày bắt đầu mùa mưa. Tuy nhiên, các chuỗi số liệu quan trắc thực tế cho thấy mưa tiền gió mùa thường xuất hiện sớm hơn nhiều tuần tại một số tiểu vùng. Nhằm giải quyết vấn đề này, luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Châm tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung nghiên cứu ngày bắt đầu gió mùa mùa hè và mùa mưa trên phạm vi tọa độ từ 11 đến 15 độ vĩ Bắc và 107 đến 110 độ kinh Đông, khai thác chuỗi số liệu 35 năm từ năm 1981 đến năm 2015. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là phân định rõ sự khác biệt giữa hai hiện tượng, đồng thời xây dựng mô hình thống kê dự báo hạn mùa cho 13 trạm khí tượng đại diện. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao chất lượng dự báo khí hậu, hỗ trợ vận hành an toàn hơn 20 hồ chứa thủy điện lớn và tối ưu hóa kế hoạch tưới tiêu cho trên 600.000 ha cà phê, hồ tiêu, giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế hàng trăm tỷ đồng mỗi năm do khô hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên nền tảng nhiệt động lực học nhiệt đới và lý thuyết hoàn lưu khí quyển quy mô lớn. Trước hết là mô hình ba phân hệ gió mùa mùa hè châu Á do Wang và Ho đề xuất, xác định Tây Nguyên nằm trong đới chuyển tiếp chịu ảnh hưởng đồng thời của gió mùa Ấn Độ, gió mùa Đông Á và gió mùa Tây Bắc Thái Bình Dương. Khung lý thuyết thứ hai là chỉ số động lực gió mùa NRM hai thành phần do Nguyễn Đăng Quang và cộng sự phát triển, phản ánh tương tác phi tuyến giữa khí áp trung bình mực biển và gió vĩ hướng tầng thấp ở mực 850 hPa. Ngoài ra, nghiên cứu kế thừa định nghĩa mùa mưa nông nghiệp của Stern và cộng sự năm 1981 dựa trên ngưỡng mưa tích lũy và tương quan bốc hơi bề mặt. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm: ngày bắt đầu gió mùa mùa hè, ngày bắt đầu mùa mưa, chuẩn sai ngày bắt đầu mùa mưa, gió vĩ hướng mực 850 hPa và bức xạ sóng dài ngoài khí quyển.

Phương pháp nghiên cứu

Về nguồn dữ liệu, tác giả thu thập số liệu lượng mưa ngày tại 17 trạm khí tượng bề mặt trong giai đoạn 1981 - 2016, chọn lọc cỡ mẫu gồm 13 trạm có chuỗi quan trắc liên tục trên 35 năm để đảm bảo tính đại diện thống kê. Cơ sở dữ liệu hoàn lưu toàn cầu bao gồm trường tái phân tích JRA-55 độ phân giải lưới 1.25 độ của Cơ quan Khí tượng Nhật Bản, trường nhiệt độ mặt nước biển độ phân giải 2.0 độ của Trung tâm Dữ liệu Khí hậu Quốc gia Hoa Kỳ NCDC, trường bức xạ sóng dài độ phân giải 2.5 độ của Trung tâm Dự báo Khí hậu Hoa Kỳ CPC và trường gió vĩ hướng CDAS-1 độ phân giải 2.5 độ trung bình 3 tháng đầu năm từ tháng 1 đến tháng 3.

Về phương pháp phân tích, nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật phân tích hàm trực giao tự nhiên kết hợp phân tích giá trị riêng để trích xuất các mode không gian và thời gian chủ đạo của trường khí quyển. Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích tương quan Canon kết hợp mô hình hồi quy từng bước nhằm tối đa hóa mối liên hệ tuyến tính giữa các trường hoàn lưu quy mô lớn với chuẩn sai ngày bắt đầu mùa mưa tại từng trạm. Phương pháp này giúp tăng cường tính độc lập giữa các biến dự báo và giảm thiểu sai số tính toán đa biến. Để kiểm định độ tin cậy, nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm chứng chéo loại từng năm một và đánh giá kỹ năng dự báo qua sai số trung bình, sai số tuyệt đối trung bình, hệ số tương quan tuyến tính cùng chỉ số tỷ lệ dự báo chính xác trên tập dữ liệu độc lập 3 năm 2015, 2016 và 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng mưa tại Tây Nguyên có sự phân hóa không gian sâu sắc. Tổng lượng mưa năm trung bình toàn vùng đạt xấp xỉ 2000 mm, nhưng dao động mạnh từ mức 1550 mm tại An Khê, Buôn Hồ lên tới 2500 - 3000 mm tại Đắk Nông và Bảo Lộc. Vào tháng 4, lượng mưa tháng trung bình nhiều năm toàn vùng đã đạt gần 120 mm và tiếp tục tăng mạnh, đạt cực đại trong các tháng chính hè từ tháng 7 đến tháng 9 với lượng mưa từ 250 đến 320 mm mỗi tháng.

Thứ hai, ngày bắt đầu mùa mưa trung bình nhiều năm trên toàn khu vực Tây Nguyên xác định theo chỉ tiêu Stern hiệu chỉnh là ngày 27/4. Khi loại bỏ hai trạm sườn đông, ngày bắt đầu mùa mưa toàn vùng dịch sớm lên ngày 26/4. Mốc thời gian này có sự chuyển dịch rõ rệt từ nam lên bắc: khu vực Tây Nam gồm Đắk Nông, Bảo Lộc đón mùa mưa sớm nhất vào ngày 25/3; khu vực Đông Nam gồm Đà Lạt, Liên Khương bắt đầu vào ngày 13/4; khu vực Trung Tây Nguyên bắt đầu vào ngày 30/4; và khu vực Bắc Tây Nguyên gồm Đăk Tô, Kon Tum, Pleiku bắt đầu muộn nhất vào ngày 06/5.

Thứ ba, nghiên cứu làm sáng tỏ sự tách biệt giữa ngày bắt đầu mùa mưa và ngày bắt đầu gió mùa mùa hè. Gió mùa mùa hè trên khu vực bùng phát trung bình vào ngày 10/5 với độ lệch chuẩn 21 ngày. Như vậy, tại các cao nguyên phía nam, mùa mưa thực tế xuất hiện sớm hơn thời điểm bùng phát gió mùa mùa hè từ 15 đến 45 ngày nhờ các đợt mưa tiền gió mùa.

Thứ tư, thử nghiệm mô hình tương quan Canon cho thấy việc kết hợp các trường nhiệt độ mặt nước biển, bức xạ sóng dài và gió vĩ hướng mực 850 hPa trong 3 tháng đầu năm mang lại kỹ năng dự báo tốt cho 3 năm 2015, 2016 và 2017, đạt tỷ lệ dự báo đúng pha xuất sắc với sai số tuyệt đối trung bình dao động từ 6 đến 12 ngày.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa mùa mưa tại Tây Nguyên bắt nguồn từ tương tác động lực giữa hoàn lưu gió mùa tây nam và địa hình núi cao dạng cánh cung của dãy Trường Sơn Nam. Vùng Tây Nam đón các luồng gió tây nam ẩm sớm từ vịnh Bengal nên mùa mưa khởi động ngay từ cuối tháng 3. Ngược lại, hai trạm sườn đông là An Khê và M'Đrắk chịu hiệu ứng khuất gió trong mùa hè và chỉ đón mưa lớn khi gió mùa đông bắc tràn về, khiến đỉnh mưa dịch chuyển hẳn sang tháng 10 và tháng 11 với lượng mưa tháng 11 tại M'Đrắk đạt gần 250 mm. Về mặt tương quan hoàn lưu, hiện tượng ENSO đóng vai trò chi phối mạnh mẽ: những năm El Nino làm mùa mưa đến muộn hơn trung bình từ 7 đến 15 ngày do áp cao cận nhiệt đới lấn tây ức chế đối lưu, trong khi những năm La Nina thúc đẩy mùa mưa đến sớm hơn từ 10 đến 20 ngày. Cơ chế vật lý này được thể hiện rõ qua biểu đồ đường dòng mực 850 hPa và các bảng phân tích mode tương quan Canon giữa đại dương và khí quyển.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, tích hợp mô hình phân tích tương quan Canon vào hệ thống tác nghiệp của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia và Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Tây Nguyên. Các đơn vị cần triển khai dự báo hạn mùa trước từ 1 đến 3 tháng (bắt đầu từ đầu tháng 4 hàng năm) thay vì chỉ dự báo hạn 10 ngày, phấn đấu nâng độ chính xác pha dự báo lên trên 80% trong giai đoạn 2024 - 2026.

Hai là, điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa thủy điện và thủy lợi trên lưu vực sông Sê San và sông Srêpôk. Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các công ty thủy điện cần dựa trên mốc dự báo mùa mưa theo từng tiểu vùng (sớm vào ngày 25/3 ở phía nam hoặc muộn vào ngày 06/5 ở phía bắc) để tối ưu hóa kế hoạch trữ nước phát điện cuối mùa khô và hạ thấp mực nước đón lũ an toàn, giúp tiết kiệm tối thiểu 15% lượng nước xả thừa qua tràn.

Ba là, tái cơ cấu lịch mùa vụ và chiến lược tưới nước cho cây công nghiệp dài ngày. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại 5 tỉnh Tây Nguyên cần hướng dẫn nông dân chủ động tận dụng nguồn nước mưa tiền gió mùa trong tháng 3 và tháng 4 cho hơn 600.000 ha cà phê, hồ tiêu, đồng thời xây dựng phương án ứng phó các đợt hạn gián đoạn kéo dài từ 7 đến 9 ngày nhằm giảm 20% chi phí năng lượng bơm tưới.

Bốn là, hiện đại hóa và gia tăng mật độ mạng lưới trạm đo mưa tự động. Tổng cục Khí tượng Thủy văn cần đầu tư lắp đặt bổ sung thêm 30 trạm đo tự động tại các vùng địa hình chia cắt phức tạp thuộc Đắk Nông và Lâm Đồng trong 2 năm tới, kết hợp chuẩn hóa dữ liệu viễn thám để liên tục hiệu chỉnh tham số đầu vào cho mô hình dự báo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Một là, các chuyên viên dự báo thời tiết và nghiên cứu viên khí hậu học: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận về chỉ số NRM, phương pháp phân tích tương quan Canon và kỹ thuật kiểm chứng chéo, giúp nâng cấp công nghệ dự báo khí hậu hạn vừa và hạn dài tại các cơ quan khí tượng thủy văn.

Hai là, các kỹ sư quản lý tài nguyên nước và vận hành công trình thủy điện: Nghiên cứu mang lại hệ thống số liệu định lượng về chu kỳ mưa ngày, tuần, tháng tại 13 trạm để thiết lập quy trình tích nước hồ chứa và điều tiết lưu lượng dòng chảy khoa học.

Ba là, các cán bộ khuyến nông và nhà quản lý nông nghiệp vùng Tây Nguyên: Luận văn cung cấp mốc thời gian bắt đầu mùa mưa phân vùng chi tiết từ ngày 25/3 đến ngày 06/5, phục vụ công tác chỉ đạo mùa vụ và phòng chống hạn hán hiệu quả cho từng địa phương.

Bốn là, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khí tượng, Thủy văn, Biến đổi khí hậu: Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp xử lý chuỗi số liệu 35 năm và ứng dụng mô hình thống kê đa biến trong nghiên cứu khoa học khí quyển.

Câu hỏi thường gặp

  1. Ngày bắt đầu gió mùa mùa hè và ngày bắt đầu mùa mưa tại Tây Nguyên khác nhau như thế nào? Ngày bắt đầu gió mùa mùa hè được xác định dựa trên chỉ số động lực gió và áp suất quy mô lớn NRM, bùng phát trung bình vào ngày 10/5. Trong khi đó, ngày bắt đầu mùa mưa căn cứ vào lượng mưa thực tế tại trạm theo chỉ tiêu Stern, bắt đầu trung bình toàn vùng vào ngày 27/4. Tại Tây Nam Tây Nguyên, mùa mưa đến sớm hơn gió mùa từ 15 đến 45 ngày nhờ các đợt mưa đối lưu nhiệt tiền gió mùa.

  2. Vì sao nghiên cứu lại hiệu chỉnh tiêu chí gián đoạn của Stern từ 7 ngày lên 9 ngày không mưa? Tây Nguyên có địa hình núi cao phức tạp, chịu ảnh hưởng của các đợt áp cao cận nhiệt đới lấn tây gây ra hiện tượng hạn ngắn đầu mùa kéo dài từ 7 đến 8 ngày, dân gian gọi là hạn bà Chằn. Việc nới rộng ngưỡng gián đoạn lên 9 ngày giúp phản ánh sát thực tế diễn biến thời tiết địa phương và hạn chế sai số tính toán chuỗi số liệu.

  3. Những nhân tố khí quyển nào đóng vai trò tốt nhất trong dự báo sớm mùa mưa Tây Nguyên? Ba trường tiền duyên trong 3 tháng đầu năm từ tháng 1 đến tháng 3 mang giá trị dự báo cao nhất gồm: trường nhiệt độ mặt nước biển khu vực xích đạo Thái Bình Dương, trường bức xạ sóng dài OLR phản ánh mức độ đối lưu mây nhiệt đới, và trường gió vĩ hướng tầng thấp ở mực 850 hPa.

  4. Hiện tượng ENSO tác động như thế nào đến ngày bắt đầu mùa mưa ở Tây Nguyên? Phân tích chuỗi số liệu 35 năm khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa chu kỳ ENSO và mùa mưa. Những năm El Nino hoạt động mạnh khiến mùa mưa thường bắt đầu muộn hơn từ 7 đến 15 ngày so với bình thường. Ngược lại, những năm La Nina mạnh thúc đẩy đối lưu phát triển sớm, đưa mùa mưa đến sớm hơn từ 10 đến 20 ngày.

  5. Tại sao lượng mưa ở khu vực sườn Đông Tây Nguyên lại có quy luật khác biệt so với các khu vực khác? Hai trạm An Khê và M'Đrắk nằm ở sườn đông dãy Trường Sơn Nam nên bị khuất gió tây nam trong mùa hè, dẫn đến lượng mưa mùa hè thấp. Đến tháng 10 và tháng 11, khi gió mùa đông bắc tràn về kết hợp địa hình chắn gió đón ẩm từ Biển Đông, lượng mưa tại đây tăng vọt và đạt đỉnh lên tới gần 250 mm mỗi tháng.

Kết luận

  • Luận văn xác lập cơ sở khoa học phân định rõ ràng giữa ngày bắt đầu gió mùa mùa hè ngày 10/5 và ngày bắt đầu mùa mưa trung bình toàn vùng ngày 27/4.
  • Làm sáng tỏ quy luật phân hóa không gian sâu sắc về ngày bắt đầu mùa mưa, sớm nhất tại Tây Nam ngày 25/3 và muộn nhất tại Bắc Tây Nguyên ngày 06/5.
  • Hiệu chỉnh thành công chỉ tiêu Stern với ngưỡng gián đoạn 9 ngày, hoàn toàn phù hợp với đặc thù khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng cao Tây Nguyên.
  • Thiết lập mô hình dự báo tương quan Canon kết hợp số liệu tiền duyên 3 tháng đầu năm, mang lại khả năng dự báo hạn mùa chuẩn xác cho 13 trạm khí tượng.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ quản lý an toàn hồ chứa thủy điện và tối ưu hóa kế hoạch sản xuất nông nghiệp trước biến đổi khí hậu.

Về kế hoạch phát triển tiếp theo, các cơ quan chuyên môn cần tiếp tục cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2017 và thử nghiệm tích hợp các mô hình động lực học phân giải cao trong giai đoạn 2024 - 2025. Các nhà quản lý và cán bộ kỹ thuật hãy ứng dụng ngay các kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn để nâng cao năng lực chủ động phòng chống thiên tai tại Tây Nguyên.