Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu năng lực động của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam” được tác giả Nguyễn Phương Linh thực hiện tại Trường Đại học Thương mại vào năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Cao Tuấn Khanh và PGS.TS Nguyễn Đức Nhuận. Luận án thuộc chuyên ngành Quản trị kinh doanh, mã số 934.01.

Tính cấp thiết của đề tài bắt nguồn từ bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của Việt Nam. Mặc dù thị trường bán lẻ trong nước được tổ chức Kearney (2017) xếp vào nhóm hấp dẫn toàn cầu với tốc độ tăng trưởng doanh thu bán lẻ hàng hóa bình quân đạt 119%/năm giai đoạn từ năm 2008 trở đi (Tổng cục Thống kê, 2019), các doanh nghiệp bán lẻ nội địa đang đối mặt với nhiều sức ép cạnh tranh gay gắt. Ngành bán lẻ Việt Nam chịu ảnh hưởng từ sự gia tăng nhanh chóng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tình trạng sụt giảm thứ hạng về mức độ hấp dẫn, phương thức quản lý chuỗi và trưng bày hàng hóa còn thiếu tính chuyên nghiệp, cùng với việc chưa đầu tư thỏa đáng cho các hình thức bán lẻ hiện đại và bán lẻ đa kênh.

Về khoảng trống nghiên cứu, lý thuyết dựa trên nguồn lực truyền thống (Resource-based view - RBV) của Barney (1991) chủ yếu tiếp cận các yếu tố nội bộ trong điều kiện thị trường tĩnh và cân bằng. Trong khi đó, các nghiên cứu mở rộng về lý thuyết năng lực động (Dynamic Capabilities) thời gian qua phần lớn được tiến hành tại các quốc gia phát triển hoặc các nền kinh tế mới nổi, đồng thời tập trung nhận dạng năng lực chung áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp hoặc khối sản xuất. Lĩnh vực bán lẻ tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam có cấu trúc cạnh tranh và đặc thù vận hành riêng biệt, nhưng chưa có công trình nghiên cứu toàn diện nào nhận dạng cụ thể các thành tố năng lực động cũng như cơ chế tác động của chúng tới kết quả kinh doanh.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ; nhận dạng các thành tố năng lực động; kiểm định cơ chế tác động giữa các nhóm năng lực động và sự ảnh hưởng của chúng tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ; từ đó xác lập hệ thống quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực động, cải thiện kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm bốn nội dung:

  1. Luận giải và hệ thống hóa lý luận cơ bản về năng lực động; xác lập các thành tố năng lực động trên cơ sở phân định năng lực động tổng quát và cụ thể của doanh nghiệp bán lẻ; xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu về cơ chế chuyển hóa năng lực tác nghiệp thành năng lực động cụ thể và tác động của chúng tới kết quả kinh doanh.
  2. Kiểm định, đánh giá cơ chế tác động của các thành tố năng lực động tổng quát tới các thành tố cụ thể và sự ảnh hưởng của năng lực động tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam; đánh giá mức độ khác biệt về ảnh hưởng giữa các nhóm năng lực.
  3. Phân tích thực trạng các thành tố năng lực động của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam thông qua kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp từ nghiên cứu định tính và định lượng.
  4. Đề xuất quan điểm, định hướng và hệ thống giải pháp nâng cao năng lực động để cải thiện kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030.

Luận án đặt ra năm câu hỏi nghiên cứu:

  1. Năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ là gì?
  2. Năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ gồm những yếu tố nào? Có thể được chia thành những nhóm năng lực động nào?
  3. Cơ chế tác động và mối quan hệ giữa các nhóm năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam diễn ra như thế nào?
  4. Sự tác động và ảnh hưởng của năng lực động tới kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam ra sao?
  5. Có những giải pháp nào nâng cao năng lực động để cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam?

Đối tượng nghiên cứu là các thành tố năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ và sự tác động của năng lực động tới kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Nội dung: Tập trung vào cơ chế tác động giữa năng lực động tổng quát tới năng lực động cụ thể, và tác động của năng lực động tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.
  • Khách thể nghiên cứu: Các doanh nghiệp bán lẻ được thành lập và đăng ký hợp pháp tại Việt Nam (không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh); thành lập từ năm 2017 trở về trước; quy mô nhỏ, vừa hoặc lớn; hoạt động bán lẻ thuần túy (không trực tiếp sản xuất hàng hóa kinh doanh); vận hành theo mô hình siêu thị tổng hợp, siêu thị mini/cửa hàng tiện lợi, và siêu thị chuyên doanh hàng tiêu dùng (bách hóa, sản phẩm cá nhân và gia đình).
  • Không gian địa bàn: Khảo sát trên phạm vi toàn quốc, tập trung chủ yếu tại ba trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
  • Thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020 (các chỉ tiêu kết quả kinh doanh khảo sát từ năm 2017 đến năm 2019); dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2019-2020; các đề xuất giải pháp định hướng đến năm 2025, tầm nhìn 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu học thuật trong nước và quốc tế theo hai nhánh: các nghiên cứu lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu thực chứng về năng lực động.

Khung lý thuyết nền tảng về năng lực động được khởi xướng bởi Teece & Pisano (1994) và tiếp tục được hoàn thiện qua các công trình của Helfat (1997), Teece & cộng sự (1997), Eisenhardt & Martin (2000), Zollo & Winter (2002), Winter (2003), Zahra & cộng sự (2006), Helfat & cộng sự (2007), Teece (2009). Các nghiên cứu giai đoạn từ năm 2010 tiếp tục đào sâu bản chất cấu trúc đa chiều của năng lực động như Barreto (2010); phát triển năng lực nội bộ thông qua học hỏi trong doanh nghiệp khởi nghiệp của Jones & cộng sự (2013); gắn kết năng lực đổi mới sáng tạo với ba thành tố cảm nhận, nắm bắt và chuyển đổi cơ hội của Williamson (2016); tổng hợp 171 bài báo về các biến số đầu vào, nhân tố ảnh hưởng và kết quả đầu ra của Vijaya & cộng sự (2017); nghiên cứu quy trình phát triển năng lực qua ba giai đoạn tại các thị trường mới nổi của Zeng & cộng sự (2017).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh nói chung đã được đề cập bởi Nguyễn Bách Khoa (2004), Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), Trần Sửu (2006). Về chủ đề năng lực động, Nguyễn Hoàng Việt (2012) phân định cấu trúc bậc năng lực kinh doanh gồm năm cấp độ và xác định các thành tố năng lực kinh doanh động; Nguyễn Trần Sỹ (2013) tổng hợp sáu thành phần cơ bản của năng lực động và nhấn mạnh tầm quan trọng của chúng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đối với mối quan hệ giữa năng lực động và kết quả kinh doanh, tổng quan tài liệu của luận án chỉ ra ba luồng quan điểm thực chứng:

  1. Quan điểm tác động trực tiếp: Wang & Ahmed (2007) lập luận năng lực động giúp doanh nghiệp đạt hiệu suất vượt trội khi có định hướng chiến lược tốt; Fang & Zou (2009) khảo sát 114 nhà quản trị tại Trung Quốc chỉ ra năng lực marketing động tác động trực tiếp, thuận chiều tới kết quả kinh doanh; Chien & Tsai (2012) khảo sát 132 nhà quản lý chuỗi thức ăn nhanh tại Đài Loan ghi nhận năng lực động tác động trực tiếp mạnh nhất tới kết quả kinh doanh (hệ số Beta = 0,58); Banjongprasert (2013) phân tích mô hình 4A tại 227 khách sạn Thái Lan; Tseng & Lee (2014) khảo sát 232 nhà quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung Quốc ghi nhận năng lực động ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh với R² hiệu chỉnh đạt 73%; Hồ Trung Thanh (2012) khảo sát 100 doanh nghiệp dệt may Việt Nam; Bùi Quang Tuyến (2017) khảo sát 565 nhà quản trị tại Viettel xác nhận năng lực thích nghi và danh tiếng tác động trực tiếp tới kết quả kinh doanh.
  2. Quan điểm tác động trực tiếp có điều tiết: Drnevich & Kriauciunas (2011) nghiên cứu 700 doanh nghiệp tại Chile nhận thấy tác động trực tiếp chỉ có ý nghĩa khi có sự điều tiết của tính động môi trường và tính phức tạp năng lực nội bộ; Wilden & cộng sự (2013) khảo sát 228 nhà quản trị tại Australia chỉ ra năng lực động không tác động trực tiếp mà chịu sự điều tiết của cấu trúc tổ chức và cường độ cạnh tranh.
  3. Quan điểm tác động gián tiếp qua năng lực tác nghiệp trung gian: Eisenhardt & Martin (2000), Winter (2003), Zahra & cộng sự (2006) đặt nền tảng lý thuyết cho rằng năng lực động tác động làm mới năng lực vận hành thông thường, từ đó tác động đến kết quả kinh doanh. Protogerou & cộng sự (2012) kiểm định tại 271 doanh nghiệp sản xuất Hy Lạp khẳng định năng lực động tác động tích cực gián tiếp tới kết quả kinh doanh thông qua năng lực marketing và kỹ thuật; Rehman & Saeed (2015) khảo sát 104 doanh nghiệp ngành giấy tại Pakistan xác định năng lực tổ chức đóng vai trò điều tiết; Torres & cộng sự (2018) chỉ ra mối quan hệ gián tiếp qua năng lực phân tích tình báo kinh doanh; Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009) kiểm định vai trò trung gian của các năng lực tác nghiệp tại doanh nghiệp Việt Nam.
Hướng tiếp cận Tác giả tiêu biểu Khách thể và cỡ mẫu Phát hiện chính
Tác động trực tiếp Fang & Zou (2009); Chien & Tsai (2012); Tseng & Lee (2014); Bùi Quang Tuyến (2017) Sản xuất Trung Quốc (N=114); Thức ăn nhanh Đài Loan (N=132); SMEs Trung Quốc (N=232); Tập đoàn Viettel (N=565) Năng lực động (hoặc năng lực marketing động) tác động trực tiếp, thuận chiều, có ý nghĩa thống kê tới kết quả kinh doanh.
Tác động có điều tiết Drnevich & Kriauciunas (2011); Wilden & cộng sự (2013) Doanh nghiệp Chile (N=700); Doanh nghiệp lớn Australia (N=228) Mối quan hệ trực tiếp không đáng kể nếu thiếu sự tham gia điều tiết của môi trường động, cường độ cạnh tranh, cấu trúc tổ chức.
Tác động gián tiếp Protogerou & cộng sự (2012); Rehman & Saeed (2015); Torres & cộng sự (2018) Sản xuất Hy Lạp (N=271); Ngành giấy Pakistan (N=104); Doanh nghiệp ứng dụng BI Năng lực động đóng vai trò bậc cao, tác động gián tiếp tới kết quả kinh doanh thông qua việc định hình các năng lực vận hành/tác nghiệp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:

  • Khoảng trống về khách thể ngành: Các nghiên cứu thực chứng quốc tế và trong nước chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp sản xuất, công nghệ thông tin hoặc viễn thông, thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm trong ngành bán lẻ hàng tiêu dùng.
  • Khoảng trống về bối cảnh kinh tế: Rất ít nghiên cứu xem xét sự thích ứng của năng lực động trong môi trường bán lẻ tại một quốc gia đang phát triển với tốc độ đô thị hóa nhanh và thị trường bán lẻ biến đổi mạnh như Việt Nam.
  • Khoảng trống về cơ chế chuyển hóa năng lực: Chưa có nghiên cứu phân định rõ ràng vai trò tiền đề của các năng lực động tổng quát (hấp thụ, đổi mới sáng tạo) trong việc biến đổi các năng lực tác nghiệp chức năng thành các năng lực động cụ thể (xây dựng thương hiệu, tích hợp đa kênh) trong ngành bán lẻ, cũng như chưa kiểm định đồng thời cả hai cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp đến kết quả kinh doanh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hai lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết dựa vào nguồn lực (RBV) của Barney (1991): Nguồn lực doanh nghiệp mang lại lợi thế cạnh tranh bền vững khi đáp ứng các tiêu chuẩn VRIN (có giá trị - Valuable, hiếm - Rare, khó sao chép - Inimitable, không thể thay thế - Non-substitutable). Tuy nhiên, lý thuyết RBV có hạn chế khi tiếp cận nguồn lực trong môi trường cân bằng tĩnh.
  2. Lý thuyết năng lực động (Dynamic Capabilities): Kết hợp giữa trường phái ngoại suy (Teece & cộng sự, 1997; Eisenhardt & Martin, 2000; Barreto, 2010 - năng lực động hình thành để phúc đáp biến động nhanh từ môi trường) và trường phái nội suy (Collis, 1994; Zollo & Winter, 2002; Winter, 2003; Helfat & cộng sự, 2007 - năng lực động là năng lực bậc cao hình thành từ học hỏi và nhu cầu tái cấu trúc nội bộ).

Luận án định nghĩa năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ là: những khả năng của doanh nghiệp bán lẻ, cho phép doanh nghiệp có thể thu nhận, làm mới, thay đổi và phát triển các năng lực bên trong một cách hiệu quả để phúc đáp kịp thời với những thay đổi từ nội bộ cũng như những biến động của môi trường bên ngoài và nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh.

Khung phân tích của luận án cấu trúc năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ thành hai tầng:

  • Năng lực động tổng quát: Đóng vai trò là năng lực tiền đề, gồm Năng lực hấp thụ (Absorptive Capacity - AC) và Năng lực đổi mới sáng tạo (Innovation Capacity - IC). Trong đó, năng lực hấp thụ kế thừa quan điểm của Cohen & Levinthal (1990), Zahra & George (2002), Camisón & Forés (2010), gồm bốn thành phần: thu nhận, đồng hóa, chuyển đổi và ứng dụng tri thức. Năng lực đổi mới sáng tạo kế thừa quan điểm của Wang & Ahmed (2007), thể hiện khả năng đổi mới quy trình và dịch vụ.
  • Năng lực động cụ thể: Là các năng lực tác nghiệp được các năng lực động tổng quát thúc đẩy, biến đổi để thích nghi với ngành bán lẻ, gồm Năng lực xây dựng & phát triển thương hiệu (Branding Capacity - BC) và Năng lực tích hợp đa kênh (Omnichannel Integration Capacity - OC) (kế thừa Cao & Li, 2015; Frasquet & cộng sự, 2018).
  • Kết quả hoạt động kinh doanh: Đo lường bằng cả chỉ tiêu tài chính (doanh thu, lợi nhuận, ROI, ROA, tăng trưởng doanh thu) và chỉ tiêu phi tài chính (thị phần, vị thế cạnh tranh, chất lượng dịch vụ) theo Bolat & Yilmaz (2009), Arend (2014), Torres & cộng sự (2018).

Về phương pháp nghiên cứu, luận án thực hiện theo quy trình bảy bước: phát hiện vấn đề nghiên cứu; tổng quan tình hình nghiên cứu; xây dựng cơ sở lý luận; xác định phương pháp nghiên cứu; thu thập dữ liệu; phân tích kết quả và đánh giá thực trạng; đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp.

Nghiên cứu kết hợp hai phương pháp:

  • Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn chuyên gia để tiền thẩm định bảng hỏi (pre-test); thực hiện phỏng vấn chuyên sâu nhà quản lý doanh nghiệp bán lẻ nhằm điều chỉnh thang đo và làm rõ thực trạng vận hành các năng lực động.
  • Nghiên cứu định lượng: Thiết kế bảng hỏi khảo sát dạng thang đo Likert 5 mức độ kế thừa từ các công trình quốc tế; thu thập dữ liệu sơ cấp từ các nhà quản trị doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam; sử dụng phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất (PLS-SEM) để phân tích dữ liệu. Quy trình phân tích định lượng bao gồm: đánh giá mô hình đo lường bậc 1 và bậc 2 (hệ số tải ngoài Outer Loading, độ tin cậy nhất quán nội tại qua Cronbach’s Alpha và Composite Reliability - CR, giá trị hội tụ qua AVE, giá trị phân biệt qua chỉ số Heterotrait-Monotrait Ratio - HTMT); đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến qua VIF; đánh giá mô hình cấu trúc (hệ số xác định R², R² hiệu chỉnh, hệ số mức độ ảnh hưởng f², chỉ số dự báo tương quan Q², chỉ số mức độ phù hợp mô hình SRMR); kiểm định hệ số đường dẫn các giả thuyết tác động trực tiếp và tác động gián tiếp thông qua kỹ thuật phân tích Bootstrapping.

Nguồn dữ liệu sử dụng:

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thường niên của các doanh nghiệp bán lẻ giai đoạn 2017-2019, số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, và báo cáo phân tích của Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua điều tra bảng hỏi đối với nhà quản trị các doanh nghiệp bán lẻ thuần túy nội địa trong giai đoạn 2019-2020 tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu lý thuyết và thực chứng về năng lực động trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các nghiên cứu lý thuyết nền tảng từ Teece & Pisano (1994) đến Helfat & cộng sự (2007), cùng các công trình tổng quan hiện đại như Barreto (2010), Vijaya & cộng sự (2017). Trong phần thực chứng, chương này phân loại chi tiết các nghiên cứu theo hướng tác động trực tiếp (Wang & Ahmed, 2007; Fang & Zou, 2009; Chien & Tsai, 2012; Tseng & Lee, 2014; Bùi Quang Tuyến, 2017), hướng tác động có điều tiết (Drnevich & Kriauciunas, 2011; Wilden & cộng sự, 2013), và hướng tác động gián tiếp thông qua các biến trung gian (Protogerou & cộng sự, 2012; Rehman & Saeed, 2015; Torres & cộng sự, 2018). Từ đó, tác giả chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu then chốt về ngành bán lẻ, bối cảnh kinh tế chuyển đổi tại Việt Nam, và sự cần thiết phải phân định cơ chế tác động giữa năng lực động tổng quát và năng lực động cụ thể.

Chương 2: Cơ sở lý luận và giả thuyết nghiên cứu về năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ

Chương 2 thiết lập khung lý luận dựa trên việc tích hợp lý thuyết RBV và lý thuyết năng lực động dưới cả hai góc nhìn ngoại suy và nội suy. Tác giả đưa ra các định nghĩa chuẩn xác về bán lẻ theo Kotler (2000) và Nghị định số 9/2018/NĐ-CP; định nghĩa doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2020; từ đó xác lập khái niệm và bản chất của năng lực động trong doanh nghiệp bán lẻ. Luận án phân định hai nhóm thành tố: năng lực động tổng quát (gồm năng lực hấp thụ và năng lực đổi mới sáng tạo) và năng lực động cụ thể (gồm năng lực xây dựng & phát triển thương hiệu và năng lực tích hợp đa kênh). Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết gồm các giả thuyết về tác động trực tiếp của năng lực động tổng quát lên năng lực động cụ thể; tác động trực tiếp của các năng lực cụ thể lên kết quả kinh doanh; và tác động gián tiếp của các năng lực tổng quát lên kết quả kinh doanh thông qua vai trò trung gian của năng lực cụ thể. Chương này cũng phân tích các yếu tố môi trường vĩ mô và môi trường ngành ảnh hưởng đến năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu gồm bảy bước logic. Phương pháp nghiên cứu định tính được triển khai qua bước tiền thẩm định bảng hỏi (pre-test) với các chuyên gia và phỏng vấn chuyên sâu nhà quản lý nhằm hoàn thiện nội dung các biến quan sát. Phương pháp nghiên cứu định lượng mô tả kỹ thuật thiết kế bảng hỏi, kế thừa các thang đo quốc tế đã kiểm chứng. Khách thể nghiên cứu được xác định chặt chẽ theo bốn tiêu chí loại trừ: doanh nghiệp bán lẻ thuần túy vốn nội địa, thành lập từ năm 2017 trở về trước, thuộc ba mô hình bán lẻ hàng tiêu dùng chủ lực. Phương pháp phân tích dữ liệu sử dụng mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất (PLS-SEM), nêu rõ quy trình đánh giá mô hình đo lường bậc 1, bậc 2 và kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính thông qua phần mềm chuyên dụng.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu về năng lực động của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm và kết quả kiểm định mô hình. Tác giả khái quát bức tranh ngành bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2017-2020 qua các chỉ số tăng trưởng GDP, doanh thu bán lẻ hàng hóa, cơ cấu doanh nghiệp theo quy mô và loại hình kinh doanh. Kết quả phân tích mô hình đo lường khẳng định các thang đo đạt độ tin cậy nhất quán (Cronbach’s Alpha, CR), giá trị hội tụ (AVE > 0,5) và giá trị phân biệt (chỉ số HTMT đạt chuẩn). Kiểm tra đa cộng tuyến cho thấy các hệ số VIF đều nằm trong giới hạn an toàn. Đánh giá mô hình cấu trúc xác nhận các chỉ số SRMR, R², R² hiệu chỉnh và Q² đều thỏa mãn tiêu chuẩn thống kê. Kết quả kiểm định các giả thuyết tác động trực tiếp và gián tiếp (qua phân tích Bootstrapping) khẳng định: các năng lực động tổng quát (hấp thụ, đổi mới sáng tạo) có tác động thuận chiều, mạnh mẽ tới các năng lực động cụ thể (thương hiệu, tích hợp đa kênh); các năng lực cụ thể có tác động trực tiếp, có ý nghĩa thống kê tới kết quả kinh doanh; đồng thời các năng lực tổng quát có tác động gián tiếp có ý nghĩa tới kết quả kinh doanh qua biến trung gian. Chương này cũng kết hợp dữ liệu sơ cấp và thứ cấp để phân tích sâu thực trạng từng thành tố năng lực động và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.

Chương 5: Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao năng lực động của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Chương 5 xây dựng các quan điểm, định hướng phát triển ngành bán lẻ và nâng cao năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp cấp doanh nghiệp được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên dựa trên mức độ tác động đã được lượng hóa tới kết quả kinh doanh, gồm: nhóm giải pháp nâng cao năng lực hấp thụ tri thức; nhóm giải pháp hoàn thiện năng lực tích hợp bán lẻ đa kênh; nhóm giải pháp củng cố và phát triển thương hiệu bán lẻ; nhóm giải pháp thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong quy trình và dịch vụ. Ngoài ra, chương này đề xuất các kiến nghị cụ thể đối với Nhà nước, các bộ ngành chức năng về hoàn thiện khung pháp lý, quản lý mặt bằng bán lẻ, kiểm soát cạnh tranh, và kiến nghị đối với Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam trong vai trò hỗ trợ thông tin, đào tạo nhân lực và kết nối chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp nội địa đến năm 2025, tầm nhìn 2030.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận của luận án thể hiện ở ba điểm:

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về năng lực động áp dụng riêng cho lĩnh vực doanh nghiệp bán lẻ, kết hợp dung hòa hai trường phái tiếp cận nội suy và ngoại suy trong bối cảnh thị trường đang phát triển.
  • Nhận dạng và phân định cấu trúc năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ thành hai tầng bậc rõ ràng: tầng năng lực động tổng quát đóng vai trò tiền đề (năng lực hấp thụ và năng lực đổi mới sáng tạo) và tầng năng lực động cụ thể mang tính đặc thù ngành (năng lực xây dựng & phát triển thương hiệu và năng lực tích hợp đa kênh).
  • Phát triển mô hình lý thuyết giải thích cơ chế chuyển hóa: chứng minh bằng lý luận khoa học cách thức các năng lực động tổng quát kích hoạt và biến đổi các năng lực tác nghiệp thông thường của doanh nghiệp thành các năng lực động cụ thể, từ đó tạo ra tác động hỗn hợp (trực tiếp và gián tiếp) tới kết quả hoạt động kinh doanh.

Đóng góp về mặt thực tiễn của luận án:

  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm tin cậy thông qua kiểm định mô hình PLS-SEM tại thị trường bán lẻ Việt Nam, khẳng định mối quan hệ tác động trực tiếp mạnh mẽ của năng lực hấp thụ và năng lực đổi mới sáng tạo tới việc hình thành năng lực thương hiệu và năng lực tích hợp đa kênh của doanh nghiệp bán lẻ.
  • Xác thực mối quan hệ giữa năng lực động và kết quả kinh doanh: chứng minh các năng lực động cụ thể có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh, trong khi các năng lực động tổng quát phát huy tác động tích cực gián tiếp tới kết quả kinh doanh thông qua các biến trung gian.
  • Phác thảo bức tranh thực trạng về năng lực động của các doanh nghiệp bán lẻ nội địa giai đoạn 2017-2020 thông qua dữ liệu định tính và định lượng, chỉ ra các điểm nghẽn trong việc tiếp nhận tri thức, tích hợp kênh bán hàng và quản trị thương hiệu.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn có thứ tự ưu tiên dựa trên trọng số tác động của từng thành tố năng lực tới kết quả kinh doanh, giúp doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam định hình chiến lược phân bổ nguồn lực hiệu quả đến năm 2025, tầm nhìn 2030; đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn cho các cơ quan quản lý vĩ mô và Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam trong việc ban hành chính sách hỗ trợ phát triển bán lẻ trong nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án chỉ tập trung khảo sát các doanh nghiệp bán lẻ thuần túy có 100% vốn nội địa thuộc các nhóm hàng tiêu dùng thiết yếu (siêu thị tổng hợp, siêu thị mini/cửa hàng tiện lợi, siêu thị chuyên doanh bách hóa), chưa mở rộng khảo sát đối với các doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), doanh nghiệp liên doanh hoặc các mô hình kinh doanh bán lẻ phi thực phẩm chuyên biệt. Về không gian, dữ liệu sơ cấp mới chỉ tập trung tại ba thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) mà chưa bao quát các khu vực đô thị loại hai hoặc thị trường bán lẻ nông thôn. Về thời gian, dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2019-2020 nên chưa phản ánh trọn vẹn những biến động kéo dài của chuỗi cung ứng trong giai đoạn phục hồi hậu khủng hoảng.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các nghiên cứu trong tương lai có thể:

  • Mở rộng phạm vi khách thể khảo sát sang các doanh nghiệp bán lẻ có yếu tố nước ngoài (FDI, liên doanh) để thực hiện phân tích so sánh đa nhóm về mức độ thích ứng năng lực động giữa khối nội địa và khối ngoại.
  • Mở rộng địa bàn nghiên cứu tới các tỉnh thành khác và các phân khúc bán lẻ chuyên sâu ngoài hàng tiêu dùng thông thường.
  • Bổ sung thêm các biến số điều tiết môi trường (như tính bất ổn của thị trường, áp lực chuyển đổi số toàn diện) để kiểm định sâu hơn tính ổn định của mô hình cấu trúc tuyến tính trong các bối cảnh kinh tế biến động mới.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh và Thương mại: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, quy trình thiết kế thang đo kế thừa, và kỹ thuật ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất (PLS-SEM) xử lý cấu trúc biến bậc cao.
  • Đối với giảng viên đại học: Công trình cung cấp tài liệu phục vụ giảng dạy các học phần Quản trị chiến lược, Quản trị bán lẻ, Quản trị Marketing, đặc biệt là nội dung vận dụng lý thuyết năng lực động vào một ngành dịch vụ cụ thể.
  • Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp bán lẻ: Cung cấp khung đánh giá thực tế để doanh nghiệp tự đo lường năng lực hấp thụ tri thức, mức độ đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị thương hiệu và mức độ tích hợp bán lẻ đa kênh; định hướng lộ trình đầu tư nguồn lực nhằm cải thiện kết quả kinh doanh.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng các chương trình đào tạo nâng cao năng lực quản trị, chính sách hỗ trợ mặt bằng kinh doanh, và định hướng chuyển đổi số cho mạng lưới phân phối nội địa.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Luận án định nghĩa năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ như thế nào?
Luận án định nghĩa năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ là những khả năng của doanh nghiệp bán lẻ, cho phép doanh nghiệp có thể thu nhận, làm mới, thay đổi và phát triển các năng lực bên trong một cách hiệu quả để phúc đáp kịp thời với những thay đổi từ nội bộ cũng như những biến động của môi trường bên ngoài và nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ. Khái niệm này kết hợp cả hai quan điểm ngoại suy và nội suy.

Câu hỏi 2: Các thành tố cấu thành năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ trong mô hình nghiên cứu gồm những gì?
Mô hình nghiên cứu chia năng lực động thành hai nhóm:

  • Nhóm năng lực động tổng quát: Gồm Năng lực hấp thụ (AC) và Năng lực đổi mới sáng tạo (IC).
  • Nhóm năng lực động cụ thể: Gồm Năng lực xây dựng & phát triển thương hiệu (BC) và Năng lực tích hợp đa kênh (OC).

Câu hỏi 3: Mối quan hệ giữa năng lực động tổng quát và năng lực động cụ thể được luận án giải thích ra sao?
Năng lực động tổng quát đóng vai trò là các năng lực tiền đề. Dưới sự tác động của năng lực hấp thụ và năng lực đổi mới sáng tạo, các năng lực tác nghiệp chức năng thông thường của doanh nghiệp bán lẻ được thúc đẩy, cải tiến và chuyển hóa thành các năng lực động cụ thể (năng lực thương hiệu và năng lực tích hợp đa kênh) để thích ứng với biến động thị trường.

Câu hỏi 4: Năng lực động tác động trực tiếp hay gián tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam?
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm xác nhận sự tồn tại đồng thời của cả hai cơ chế: các thành tố năng lực động cụ thể (thương hiệu, tích hợp đa kênh) có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh; trong khi các thành tố năng lực động tổng quát (hấp thụ, đổi mới sáng tạo) có ảnh hưởng tích cực gián tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh thông qua các biến trung gian là năng lực động cụ thể.

Câu hỏi 5: Khách thể khảo sát thực nghiệm của luận án phải đáp ứng những tiêu chí nào?
Khách thể khảo sát là các doanh nghiệp bán lẻ thỏa mãn bốn tiêu chí: (1) Được thành lập và đăng ký tại Việt Nam, không có vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh; (2) Thành lập từ năm 2017 trở về trước; (3) Hoạt động bán lẻ thuần túy, không trực tiếp sản xuất hàng hóa kinh doanh; (4) Vận hành theo mô hình siêu thị tổng hợp, siêu thị mini/cửa hàng tiện lợi, hoặc siêu thị chuyên doanh hàng tiêu dùng (bách hóa, phục vụ cá nhân và gia đình).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Phương Linh đã hệ thống hóa lý luận về năng lực động và kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính phản ánh cơ chế chuyển hóa năng lực trong ngành bán lẻ Việt Nam. Bằng việc phân định cấu trúc năng lực động thành hai tầng bậc tổng quát và cụ thể, công trình chứng minh vai trò tiền đề của năng lực hấp thụ và đổi mới sáng tạo đối với năng lực thương hiệu và tích hợp đa kênh, cũng như cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp của chúng tới kết quả kinh doanh. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ thực nghiệm và hệ thống giải pháp có thứ tự ưu tiên giúp các doanh nghiệp bán lẻ nội địa nâng cao khả năng thích ứng và duy trì kết quả kinh doanh trong điều kiện thị trường biến động.