Chương 1: Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số NLCT cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng chỉ số NLCT cấp tỉnh của TPHCM giai đoạn 2005 – 2015 Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chỉ số NLCT cấp tỉnh của TPHCM trong tương lai. 8 CHƢƠNG 1: NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH VÀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1.
Cạnh tranh Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội. Theo Wikipedia, cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác [3]. Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, sinh thái, thể thao. Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài, tùy theo nội dung mà thuật ngữ này được sử dụng.
Theo từ điển Cornu của Pháp, thì cạnh tranh được hiểu là: “Chạy đua trong kinh tế; hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau cung ứng hàng hóa, dịch vụ, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau, với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng thường xuyên” [16]. Theo Trần Sửu (2005), Cạnh tranh là sự phấn đấu, vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học – kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất. Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh. Không có cạnh tranh sẽ không có sinh tồn và phát triển.
Đó là quy luật tồn tại của muôn loài. Trong kinh tế, cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ) bằng các phương pháp và biện pháp khác nhau như kỹ thuật, kinh tế, chính trị, quân sự, tâm lý xã hội [43]. Luật Cạnh tranh (2004) đã cụ thể hóa các quan điểm về cạnh tranh và đưa ra một số giải thích thuật ngữ cạnh tranh như sau: Cạnh tranh có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ kinh tế pháp lý, cạnh tranh được hiểu là sự chạy đua giữa các thành viên cùng một thị trường nhằm mục đích lôi kéo khách hàng, gia tăng thị phần của một thị trường hàng hóa, dịch vụ cụ thể.
Cạnh tranh với tính chất 9 là động lực nội tại thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế chỉ tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường. Cạnh tranh không những là động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả của các doanh nghiệp, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế xã hội [38].Porter (2008), “cạnh tranh là tạo ra năng suất và năng suất là giá trị sản lượng do một đơn vị lao động hoặc vốn sinh ra, nó phụ thuộc vào chất lượng và đặc điểm của sản phẩm”. Có thể nói khả năng cạnh tranh và năng suất mới có thể đảm bảo sự thịnh vượng kinh tế lâu dài. Do đó, các nền kinh tế cần xây dựng và nuôi dưỡng môi trường kinh doanh kinh tế vi mô có tính cạnh tranh, cho phép các doanh nghiệp cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng thông qua việc giải phóng sức cạnh tranh trong nội bộ.
Để có thể xây dựng và nuôi dưỡng môi trường kinh doanh kinh tế vi mô có tính cạnh tranh cần biết được một quốc gia/ vùng lãnh thổ đang ở giai đoạn nào của sự phát triển kinh tế [59]. Như vậy, khái niệm cạnh tranh được hiểu là cạnh tranh kinh tế xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Cạnh tranh là một trong những quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường, nó là động lực thúc đẩy các tổ chức không ngừng cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Cạnh tranh bao hàm một số đặc trưng cơ bản: 1- Mang bản chất của mối quan hệ cùng mục đích giữa các chủ thể với nhau, đề cập đến cạnh tranh là một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể và các chủ thể phải có cùng mục tiêu; 2- Các chủ thể cạnh tranh đều phải tuân thủ những ràng buộc chung; 3- Phương pháp và công cụ cạnh tranh rất đa dạng; 4- Cạnh tranh diễn ra trong khoản thời gian và không gian không cố định.
Từ những quan điểm trên, có thể rút ra khái niệm về cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là quá trình áp dụng những đổi mới và sáng tạo liên tục để đạt được mục tiêu xác định với hiệu quả cao và bền vững giữa các chủ thể khác nhau”. Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là khái niệm tổng hợp được xây dựng trên cơ sở kết nối và tổ hợp hệ thống nhiều yếu tố cả bên trong và bên ngoài ở các cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp DN với tư cách là những thực thể độc lập. Theo định nghĩa của Đại từ điển 10 tiếng Việt thì “Năng lực” là (1) những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì; (2) khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc. Do vậy, có thể khẳng định, NLCT là khả năng giành thắng lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh (cá nhân hay tổ chức, DN hay quốc gia) trong việc thực hiện cùng mục tiêu nào đó nhằm đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững.
Theo Nguyễn Xuân Thành (2014), NLCT là cách thức các nước tạo điều kiện tốt nhất về kinh tế, xã hội và môi trường cho phát triển kinh tế. Nó đo lường những gì hình thành nên sự phát triển này, những thứ như chính sách, thể chế và các yếu tố quyết định năng suất. Nó theo dõi những yếu tố quan trọng giúp một nền kinh tế có năng suất cao và so sánh thành quả của mỗi quốc gia với chuẩn mực quốc tế [46]. Kế thừa những quan điểm đã trình bày, có thể rút ra khái niệm về NLCT như sau: NLCT là khả năng tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục nhằm đạt được mục tiêu với hiệu quả cao và bền vững.
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Tùy theo mục đích nghiên cứu và dựa vào căn cứ khác nhau, cạnh tranh được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Theo mục tiêu nghiên cứu, luận văn chỉ xem xét theo cấp độ cạnh tranh để phân loại, nghĩa là bao gồm cạnh tranh cấp quốc gia, cạnh tranh cấp vùng hay cấp tỉnh, cạnh tranh cấp DN và cạnh tranh cấp sản phẩm. Cạnh tranh quốc gia hay cạnh tranh cấp tỉnh rất khác với cạnh tranh DN. Thực chất, cạnh tranh cấp quốc gia, cấp vùng hay cấp tỉnh là đứng trên góc độ quản lý nhà nước để nghiên cứu.
Trên cơ sở khái quát các quan điểm, lý thuyết liên quan đến cạnh tranh, có thể khẳng định sự tồn tại của cạnh tranh cấp tỉnh là một đặc thù của Việt Nam. Cạnh tranh cấp tỉnh có những điểm tương đồng với cạnh tranh quốc gia về mục tiêu và phương thức cạnh tranh. Cạnh tranh quốc gia thường được phân tích theo quan điểm tổng thể, chú trọng vào môi trường kinh tế vĩ mô và thể hiện vai trò của chính phủ. Cạnh tranh cấp tỉnh cũng được phân tích theo quan điểm tổng thể, chú trọng vào môi trường kinh tế cấp tỉnh và thể hiện vai trò của chính quyền cấp tỉnh.
Cạnh tranh cấp tỉnh có những đặc trưng cơ bản sau: 11 Một là, về nguồn gốc, cạnh tranh cấp tỉnh xuất hiện khi có sự phân cấp về kinh tế, nhất là trong lĩnh vực đầu tư và quản lý DN, giữa cấp trung ương (TW) và cấp tỉnh ở Việt Nam. Các chủ thể cạnh tranh là chính quyền cấp tỉnh và những yếu tố liên quan đến môi trường đầu tư của tỉnh. Hai là, về mục tiêu cạnh tranh, các chủ thể cạnh tranh có cùng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tối đa hóa lợi ích cho các địa phương (việc làm nhiều hơn, thu nhập cao hơn,…) thông qua việc tạo các điều kiện, cơ hội (hay tạo tiềm năng tăng năng suất) để mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ba là, về phương pháp và công cụ cạnh tranh, đó là tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, hiệu quả nhất thông qua việc tạo ra sự khác biệt trong điều hành kinh tế của mỗi địa phương.
Bốn là, các chủ thể cạnh tranh tuân thủ những ràng buộc chung, đó là các cơ chế, chính sách, thể chế của chính quyền trung ương, thông lệ quốc tế và sự hạn chế các nguồn lực ở mỗi địa phương (đất đai, tài nguyên khoáng sản,…) nên cần thiết phát triển quan hệ liên kết, hợp tác để đạt hiệu quả tối ưu. Năm là, quá trình cạnh tranh được diễn ra liên tục theo thời gian và trong phạm vi không gian là các tỉnh của Việt Nam. Phi tập trung hóa là xu hướng đang phát triển phổ biến trong quản lý kinh tế ở nhiều nước. Phi tập trung hóa là chế độ phân chia quyền hạn và trách nhiệm, thẩm quyền về quản lý kinh tế của Trung ương cho chính quyền địa phương.
Do đó, trong phạm vi một quốc gia cũng xuất hiện sự ganh đua giữa các vùng hay cấp địa phương, được gọi là cạnh tranh vùng hay địa phương mà ở Việt Nam đang tồn tại một cấp độ cạnh tranh đặc thù là cạnh tranh cấp tỉnh. Tính tất yếu của việc nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trƣờng Nâng cao NLCT cấp tỉnh đang là vấn đề được các tỉnh quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Theo VCCI, đã có trên 40 cuộc hội thảo được tổ chức tại các tỉnh thành nhằm đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường kinh doanh của các địa phương. Cũng tại đây, nhiều bài học kinh nghiệm đã được nêu ra để các địa phương có thể học hỏi lẫn nhau.
Kể cả các tỉnh thuộc nhóm dẫn đầu như Đà Nẵng, Bình 12 Dương cũng đã tổ chức các hội thảo chuyên đề để nhìn nhận những điểm yếu trong chỉ số PCI của địa phương mình.