CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN 1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM BẤT ĐỘNG SẢN.1 Khái niệm bất động sản theo Bộ luật Dân sự. Tài sản là một chế định quan trọng được quy định trong Bộ luật Dân sự. Trong đó, việc phân loại tài sản có ý nghĩa rất lớn. Hầu hết các nước đều chia tài sản thành động sản và bất động sản.
Cơ sở của việc phân loại này xuất phát từ tính chất của bất động sản là những tài sản gắn liền với đất đai và không thể di dời được. Ngày nay, pháp luật của nhiều quốc gia vẫn dựa vào yếu tố tự nhiên không di dời được của tài sản để xác định tài sản đó là bất động sản và cơ bản thống nhất xem bất động sản gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai như Luật Dân sự Pháp, Luật Dân sự Nhật Bản. Tuy nhiên, mỗi nước lại có quan niệm khác nhau về những tài sản gắn liền với đất đai được coi là bất động sản như Luật Dân sự Pháp xem mùa màng chưa gặt, trái cây chưa bứt khỏi cây là bất động sản, nếu đã bứt khỏi cây được coi là động sản, tương tự quy định này cũng được thể hiện ở Luật Dân sự Nhật Bản. Trong khi đó, Luật Dân sự Thái Lan quy định bất động sản là đất đai và những vật gắn liền với đất đai hoặc hợp thành một thể thống nhất với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai.
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của mỗi nước cũng có những nét đặc thù riêng về khái niệm bất động sản, cũng như những tiêu chí để đánh giá, phân loại chúng. Có một số quốc gia quan niệm rằng bất động sản không hoàn toàn dựa trên thuộc tính tự nhiên mà còn dựa trên mục đích sử dụng hoặc giá trị của tài sản gắn với đất đai như Luật Dân sự Pháp có quy định những vật tuy không gắn liền với đất đai nhưng vẫn được coi là bất động sản khi chúng được chủ sở hữu đưa vào phục vụ hoặc khai thác cùng với ruộng đất bao gồm: súc vật gắn với canh tác; nông cụ; hạt giống giao cho người thuê đất canh tác; dụng cụ cần thiết cho việc khai thác cơ sở 123doc 6 rèn, cơ sở làm giấy và các nhà xưởng khác… Khi những tài sản này không còn được chủ sở hữu sử dụng cho việc khai thác ruộng đất nữa thì chúng sẽ trở thành động sản1. Ở Việt Nam, việc phân chia tài sản thành bất động sản và động sản cũng đã thể hiện ngay trong Bộ luật Dân sự năm 1995. Theo đó, “Bất động sản là các tài sản không di dời được2”, tính chất không di dời của các loại tài sản là bất động sản được hiểu là tài sản đó không thể dịch chuyển một cách cơ học trong không gian.
Ngoài ra, các tài sản là bất động sản không phải là đất đai có một đặc điểm chung là tài sản đó trực tiếp hay gián tiếp với đất đai. Các tài sản là bất động sản trực tiếp gắn với đất đai là nhà, công trình xây dựng, cây cối gắn với đất. Các tài sản là bất động sản gián tiếp gắn với đất đai là tài sản gắn với nhà ở và công trình xây dựng. Đến khi Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995 cũng có sự phân chia như vậy.
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không nêu khái niệm cụ thể thế nào là “bất động sản” mà chỉ sử dụng phương pháp liệt kê để định nghĩa bất động sản, theo đó “Bất động sản là các tài sản bao gồm: Ðất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định3”. Như vậy, cả hai Bộ luật Dân sự năm 1995 và năm 2005 của nước ta đều không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là “bất động sản” mà chỉ dùng phương pháp liệt kê để chỉ ra các loại tài sản là bất động sản mà thôi. 1 Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005, tác giả PGS.TS Hoàng Thế Liên. 2 Điều 181 Bộ luật Dân sự 1995.
3 Điều 174 Bộ luật Dân sự 2005.2 Khái niệm bất động sản theo Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 Thị trường bất động sản nước ta chính thức được hình thành kể từ khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời cho phép người sử dụng đất được thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Đến năm 1996 thuật ngữ thị trường bất động sản mới được đề cập trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII "Quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường bất động sản. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, không tư nhân hóa không cho phép mua bán đất đai. Thực hiện đúng Luật đất đai; bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và chính sách về đất đai…".
Đây được xem như là một bước tiến lớn trong quan niệm của chúng ta về việc xác lập các giao địch về đất đai trong đời sống xã hội. Trong giai đoạn này, hoạt động thị trường bất động sản đang hình thành và phát triển. Tuy nhiên, nhiều giao dịch bất động sản thông qua thị trường ngầm, phi chính chức, tình trạng đầu cơ vẫn diễn ra thường xuyên. Mãi đến năm 2006, Luật Kinh doanh bất động sản mới được ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã điều chỉnh kịp thời, làm lành mạnh hóa thị trường bất động sản, giúp thị trường bất động sản ngày càng hoạt động tốt hơn.
Có thể thấy rằng Luật Kinh doanh bất động sản ra đời là một bước ngoặc lớn, góp phần duy trì trật tự, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Luật Kinh doanh bất động sản hiện hành không nêu khái niệm “bất động sản”. Tuy nhiên, trong phần Dự thảo của Luật Kinh doanh bất động sản Ủy ban soạn thảo luật của Quốc Hội cũng có đề cập đến khái niệm “bất động sản” và sử dụng phương pháp liệt kê để nêu khái niệm “bất động sản”. Theo đó, “Bất động sản là các tài sản bao gồm: quyền sử dụng đất; nhà, công trình xây dựng; các tài sản khác gắn liền với đất4”.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng khái niệm về “bất động sản” trong Bộ luật dân sự năm 2005 và Dự thảo Luật Kinh doanh bất đồng sản năm 2006 có nhiều điểm tương đồng về việc xem và phân loại các tài sản là bất động sản. Tuy nhiên có một điểm khác biệt được 4 Điều 4 Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản. 123doc 8 xem là khá cơ bản là Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản xem quyền sử dụng đất chính là bất động sản trong khi đó Bộ luật nguồn - Bộ luật Dân sự 2005 chưa thể hiện cụ thể quyền sử dụng đất là bất động sản, do đó trong thực tế có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Thêm vào đó, các Đại biểu Quốc hội có ý kiến không đồng tình với khái niệm “bất động sản” như trong Dự thảo Luật Kinh doanh bất đồng sản năm 2006 và đề nghị sử dụng khái niệm “bất động sản” theo như Bộ luật Dân sự năm 2005 là đầy đủ và phù hợp nhất, cụ thể: Khái niệm bất động sản, theo dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản là tài sản bao gồm quyền sử dụng đất, nhà, công trình xây dựng, các tài sản khác gắn liền với đất.
Quy định này vừa không đầy đủ, vừa thiếu chính xác và đề nghị nên giải thích khái niệm bất động sản trên cơ sở đối chiếu với Bộ luật Dân sự để có quy định về bất động sản một cách khái quát hơn, đầy đủ hơn bởi theo quy định của Bộ luật Dân sự bất động sản là tài sản cố định gắn liền với đất, không di dời được5. Vì vậy, Luật Kinh doanh bất động sản ra đời không đưa ra khái niệm “bất động sản” cũng như không đưa ra các tiêu chí để phân loại, đánh giá bất động sản, mà chỉ trực tiếp điều chỉnh các loại bất động sản được phép đưa vào hoạt động kinh doanh trên thị trường, bao gồm “các loại nhà, công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng; quyền sử dụng đất được tham gia thị trường bất động sản theo quy định của pháp luật về đất đai; các loại bất động sản khác theo quy định của pháp luật6”.3 Đặc điểm của bất động sản. Do bất động sản là hàng hóa đặc biệt nên chúng có những đặc điểm như sau: 5 Ý kiến phát biểu của Đại biếu Quốc hội Bùi Thị Trung Hà - Đại biểu tỉnh Hà Nam. 6 Khoản 1, Điều 6 Luật Kinh doanh bất động sản.
123doc 9 - Tính cố định và không thể di dời: Bất động sản luôn gắn liền với đất đai nên có địa điểm và vị trí cố định, không có khả năng di dời, dịch chuyển, cũng như tăng thêm về diện tích. Mặt khác, đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên nên có hạn và bị giới hạn về không gian. Các bất động sản khác như nhà, công trình xây dựng và vật kiến trúc gắn liền với đất đai bị cố định về vị trí, địa điểm. Vì vậy, giá trị và lợi ích của bất động sản gắn liền với từng vị trí cụ thể.
Yếu tố vị trí sẽ quyết định giá trị và lợi ích mang lại của bất động sản. Yếu tố vị trí không chỉ xác định bằng các tiêu thức đo lường địa lý thông thường mà nó được đánh giá bởi khoảng cách đến trung tâm thương mại, dịch vụ. Do bất động sản có tính cố định về vị trí và gắn liền với vị trí nhất định nên giá trị và lợi ích mang lại của bất động sản chịu tác động của yếu tố vùng và khu vực rõ rệt. - Tính cá biệt và khan hiếm: Đặc điểm này của bất động sản xuất phát từ tính cá biệt và sự khan hiếm của đất đai.
Sự khan hiếm của đất đai là do diện tích bề mặt trái đất là có hạn. Tính khan hiếm cụ thể của đất đai là giới hạn về diện tích đất đai của từng miếng đất, khu vực, vùng, địa phương, lãnh thổ. Chính vì tính khan hiếm, tính cố định và không di dời được của đất đai nên hàng hoá bất động sản có tính cá biệt. Trong cùng một khu vực nhỏ kể cả hai bất động sản cạnh nhau đều có những yếu tố không giống nhau.