Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu mối quan hệ thực nghiệm giữa dao động mực nước ven biển với các tham số bão vùng biển ven bờ vịnh bắc bộ

Luận văn thạc sĩ phân tích hus nghiên cứu mối quan hệ thực nghiệm giữa dao động mực nước ven biển với các tham số bão vùng, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Hải dương học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

70
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.2. Lựa chọn khu vực nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Loại trừ thủy triều

2.2. Phương pháp hồi quy tuyến tính

2.2.1. Phương pháp hồi quy tuyến tính một biến

2.2.2. Phương pháp hồi quy tuyến tính nhiều biến

2.2.3. Hệ số tương quan

3. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ DỮ LIỆU

3.1. Cơ sở dữ liệu mực nước

3.2. Cơ sở dữ liệu về bão

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ THỰC NGHIỆM GIỮA DAO ĐỘNG MỰC NƯỚC VEN BỜ VỚI CÁC THAM SỐ BÃO

4.1. Khái quát về mô tả định tính đợt nước dâng rút và cơn bão liên quan

4.2. Mối liên hệ giữa nước dâng và khoảng cách từ tâm bão đến trạm Hòn Dấu

4.3. Mối liên hệ giữa mực nước dâng cực đại tại trạm Hòn Dấu với áp suất tại tâm bão

4.4. Phân tích hồi quy tuyến tính giữa nước dâng cực đại, nước dâng trung bình tại trạm quan trắc ven bờ với các tham số bão

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về dao động mực nước ven biển và bão tại vịnh Bắc Bộ

Nghiên cứu mối quan hệ giữa dao động mực nước và các tham số bão tại vịnh Bắc Bộ là một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực hải dương học. Vịnh Bắc Bộ là khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các cơn bão, dẫn đến những biến động lớn về mực nước ven biển. Việc hiểu rõ mối quan hệ này không chỉ giúp dự báo chính xác hơn về nước dâng do bão mà còn hỗ trợ trong việc thiết kế các công trình ven biển. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, nước dâng do bão có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các khu vực ven biển, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay.

1.1. Tình hình nghiên cứu về dao động mực nước và bão

Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để phân tích mối quan hệ giữa mực nước ven biển và các tham số bão. Các nghiên cứu này thường sử dụng phương pháp mô hình số và thống kê để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nước dâng. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cường độ gió và áp suất tại tâm bão là những yếu tố chính quyết định đến mức độ nước dâng. Việc nắm bắt được các yếu tố này sẽ giúp cải thiện khả năng dự báo nước dâng trong tương lai.

1.2. Đặc điểm của khu vực nghiên cứu tại vịnh Bắc Bộ

Vịnh Bắc Bộ là khu vực có địa hình phức tạp với nhiều đảo và bờ biển dài. Đặc điểm này làm cho dao động mực nước tại đây có sự biến đổi lớn. Các cơn bão thường xuyên đổ bộ vào khu vực này, gây ra những đợt nước dâng mạnh. Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nước dâng và các tham số bão tại đây là rất cần thiết để có thể đưa ra các biện pháp phòng tránh hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu dao động mực nước ven biển

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về mực nước ven biển và bão, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định chính xác mối quan hệ giữa chúng. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt dữ liệu quan trắc tại các trạm ven biển. Điều này dẫn đến việc khó khăn trong việc xây dựng các mô hình dự báo chính xác. Hơn nữa, sự biến đổi khí hậu cũng làm cho các mô hình hiện tại trở nên không còn phù hợp. Do đó, cần có những nghiên cứu sâu hơn để cải thiện độ chính xác của các dự báo.

2.1. Thiếu hụt dữ liệu quan trắc và ảnh hưởng đến nghiên cứu

Việc thiếu hụt dữ liệu quan trắc tại các trạm ven biển là một trong những thách thức lớn trong nghiên cứu dao động mực nước. Nhiều khu vực không có đủ số liệu để phân tích, dẫn đến việc khó khăn trong việc xác định các mối quan hệ thực nghiệm. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng dự báo nước dâng trong các cơn bão.

2.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến dao động mực nước

Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tần suất và cường độ của các cơn bão. Điều này dẫn đến những biến động lớn về mực nước ven biển. Các nghiên cứu cần phải xem xét các yếu tố này để có thể đưa ra những dự báo chính xác hơn về nước dâng trong tương lai.

III. Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dao động mực nước và bão

Để nghiên cứu mối quan hệ giữa dao động mực nước và các tham số bão, nhiều phương pháp khác nhau đã được áp dụng. Phương pháp hồi quy tuyến tính là một trong những phương pháp phổ biến nhất. Phương pháp này cho phép xác định mối quan hệ giữa các biến số và đưa ra các dự báo dựa trên dữ liệu thu thập được. Ngoài ra, các mô hình số cũng được sử dụng để mô phỏng các tình huống khác nhau và đánh giá tác động của bão đến mực nước ven biển.

3.1. Phương pháp hồi quy tuyến tính trong nghiên cứu

Phương pháp hồi quy tuyến tính cho phép xác định mối quan hệ giữa mực nước ven biển và các tham số bão như cường độ gió và áp suất. Bằng cách sử dụng dữ liệu quan trắc, các nhà nghiên cứu có thể xây dựng các mô hình dự báo chính xác hơn về nước dâng trong các cơn bão.

3.2. Mô hình số trong mô phỏng nước dâng do bão

Mô hình số là công cụ mạnh mẽ trong việc mô phỏng các tình huống nước dâng do bão. Các mô hình này có thể giúp đánh giá tác động của các yếu tố như tốc độ di chuyển của bão và độ sâu của vùng biển đến dao động mực nước. Tuy nhiên, độ chính xác của các mô hình này phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu đầu vào.

IV. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa dao động mực nước và bão

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa dao động mực nước và các tham số bão. Cường độ gió và áp suất tại tâm bão là những yếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ nước dâng. Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng, khi cường độ gió tăng, mức nước dâng cũng tăng theo. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc dự báo nước dâng trong các cơn bão tại vịnh Bắc Bộ.

4.1. Mối liên hệ giữa cường độ gió và nước dâng

Nghiên cứu cho thấy rằng, khi cường độ gió tăng lên, mức nước dâng cũng tăng theo. Điều này được thể hiện rõ qua các số liệu quan trắc tại các trạm ven biển. Mối liên hệ này có thể được sử dụng để dự báo nước dâng trong các cơn bão sắp tới.

4.2. Tác động của áp suất bão đến dao động mực nước

Áp suất tại tâm bão cũng có tác động lớn đến mực nước ven biển. Khi áp suất giảm, nước dâng lên cao hơn so với mức bình thường. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự giảm áp suất có thể làm tăng mức nước dâng lên tới 40 cm, điều này cần được xem xét trong các dự báo nước dâng.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu mối quan hệ giữa dao động mực nước và các tham số bão tại vịnh Bắc Bộ là một lĩnh vực quan trọng và cần thiết. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có mối liên hệ chặt chẽ giữa các yếu tố này, từ đó giúp cải thiện khả năng dự báo nước dâng trong các cơn bão. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để xác định rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng và phát triển các mô hình dự báo chính xác hơn.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực dao động mực nước

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc thu thập dữ liệu quan trắc tại các trạm ven biển để cải thiện độ chính xác của các mô hình dự báo. Ngoài ra, cần nghiên cứu thêm về tác động của biến đổi khí hậu đến mực nước ven biển.

5.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc thiết kế các công trình ven biển và lập kế hoạch phòng tránh thiên tai. Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa nước dâng và các tham số bão sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định chính xác hơn trong việc bảo vệ tài sản và tính mạng của người dân.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu mối quan hệ thực nghiệm giữa dao động mực nước ven biển với các tham số bão vùng biển ven bờ vịnh bắc bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Nước dâng do bão là một hiện tượng tự nhiên rất nguy hiểm đối với tính mạng và tài sản của các nước ven biển có bão đổ bộ. Trên thế giới nhiều nơi bị ảnh hưởng rất nặng của bão như vùng vịnh Bengal, đặc biệt là Bangladet (2 lần nước dâng trong 2 năm 1970 và 1990 cao hơn 7m, đã làm hơn 400.000 người thiệt mạng), vùng biển Caribe (nước dâng cao nhất đã ghi được là 8m, trận nước dâng do bão FLORA, 5.000 người thiệt mạng), Mỹ (đã chịu trận nước dâng lớn đến 7,4 m), các nước ven bờ biển Bắc cũng đã chịu hậu quả nghiêm trọng của các trận nước dâng 1916, 1953, 1962, 1976 (trong các cơn bão 1953 ở Hà Lan 1.400 người chết, ở Anh 300 người chết). Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc cũng chịu hậu quả nước dâng do bão rất nặng nề (mực nước dâng cao nhất tương ứng là 3,6 m; 5,2 m; 3,2 m ). Còn ở nước ta, nước dâng do bão ghi được trong lịch sử như sau:  Năm 1904 bão gây ra nước dâng lớn nhất ở Mỹ Tho làm chết 5.

 Năm 1955, 1990 và 1996 ở Hải Phòng, 1982 ở Nghệ Tĩnh bão làm nước tràn qua đê, gây ngập lụt, phá hủy cầu cống, ruộng lúa và các công trình khác.  Năm 1985 cơn bão Cencil ở Huế - Bình Trị Thiên cũ, dâng nước, làm chết gần 1000 người, …  Năm 1989 nước dâng bão làm chết 352 người, mất tích 600 người.  Năm 1990 nước dâng bão làm chết 356 người  Thống kê thiệt hại trực tiếp đối với các tỉnh vùng ven biển chịu ảnh hưởng của cơn bão số 7 (Damrey, 27/10/ 2005) :  Thiệt hại vật chất do cơn bão gây ra rất nặng nề, tới 1.  Thanh Hoá bị bão số 7 tàn phá, làm thiệt hại tới 747 tỷ đồng.000 dân trước khi bão ập đến, 1 người chết, 5 người bị thương.500 ngôi nhà bị kéo sập, 72.000 nhà khác bị hư hỏng nặng.

117 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phòng của bệnh viện, trạm xá bị đổ, hơn 1.310 phòng học hư hại, 71.600 ha lúa đang thời kỳ trổ đòng bị chìm nước.  Tại Nam Định, số thiệt hại lên 517 tỷ đồng.000 ngôi nhà bị ngập, hư hại, 80.000 m3 đất đá của hệ thống thủy lợi bị sạt lở, 8.000 ha ao hồ nuôi thủy sản bị ngập và hư hỏng.  Tại các tỉnh ven biển còn lại, tỉnh Quảng Ninh là 38 tỷ đồng, Hải Phòng 53 tỷ đồng, Thái Bình 178 tỷ đồng, Ninh Bình 150 tỷ đồng, Nghệ An 48 tỷ đồng. Khi thiết kế các loại công trình biển và nhất là công trình ven bờ như các công trình quai đê, lấn biển, xây dựng đê đập, cầu cảng, dàn khoan, kho bãi…người ta phải tính đến độ cao cần thiết, trong đó có mực nước dâng do bão.

Khi xây dựng kế hoạch phòng tránh người ta phải biết được các đặc trưng khác như về quá trình nước dâng rút, thời điểm, địa điểm xảy ra nước dâng, rút cực trị. Do vậy cần phải nghiên cứu đưa ra các đặc trưng chế độ và dự báo hiện tượng nước dâng, rút cho từng cơn bão cụ thể. Chính vì thế, nắm biết được mối liên hệ giữa nước dâng với các tham số bão sẽ giúp ích rất nhiều trong việc tính toán và thiết kế các loại công trình biển này. Trị số nước dâng do bão nói chung và trị số nước dâng cực đại do bão gây ra nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: cường độ gió bão, hướng gió bão tác động, tốc độ di chuyển của bão, mức độ giảm khí áp ở tâm bão và độ sâu vùng biển bão tới… Với cùng những điều kiện như nhau, nhưng ngay trước khi bão đổ bộ, bão di chuyển với tốc độ nhanh chậm khác nhau sẽ gây ra những trị số nước dâng cực đại lúc bão đổ bộ khác nhau.

Hay việc bão di chuyển theo các hướng khác nhau thì cũng sẽ gây ra những hướng gió khác nhau và trị số nước dâng cực đại khác nhau. Ở vùng ven biển Việt Nam gió bão có thể có cường độ tới cấp 11, 12, hoặc hơn, tức là gió bão ở đây có thể có cường độ từ 29 m/s tới 33 m/s hoặc hơn. Gió bão có thể làm cho mực nước ven biển dâng cao thêm lên tới 1 m, 2 m, 3 m hoặc hơn so 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với mực nước triều ở thời khoảng tương ứng. Ở Việt Nam phân tích trong 100 cơn bão thì :  Cứ 2 cơn bão đổ bộ thì gây nước dâng >1m  Cứ 3 cơn bão đổ bộ thì gây nước dâng >1,5m  Cứ 10 cơn bão đổ bộ thì có 1 cơn gây nước dâng > 2m Thời gian tồn tại nước dâng từ 12 - 30 giờ, thời gian duy trì đỉnh nước dâng từ 2 - 3 giờ [3].

Ở Việt Nam, khi bão tới, khí áp trong bão cũng làm cho mực nước biển biến động đáng kể. Khi bão đổ bộ vào bờ biển, khí áp vùng trung tâm bão có thể giảm xuống tới 974 mb so với khí áp chuẩn bằng 1013 mb. Vì vậy, có thể làm cho mực nước ven biển nơi bão tới dâng cao thêm lên khoảng 40 cm so với mực nước triều ở thời khoảng tương ứng. Chính bởi tính cấp thiết từ các con số thống kê nêu trên về tác hại vô cùng tận của bão, cộng với các con số thông kê về nước dâng khi có bão, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mối quan hệ thực nghiệm giữa dao động mực nước ven biển với các tham số bão vùng biển ven bờ vịnh Bắc Bộ”cho luận văn Thạc sỹ của mình, để mong mỏi có thể tìm ra được mối liên hệ cụ thể nào đó giữa nước dâng và các tham số bão, từ đó hướng tới có thể dự báo được nước dâng khi biết được thông tin bão.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu Trong hai thập kỷ gần đây do tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu, các thiệt hại do thiên tai gây ra có chiều hướng gia tăng về tần số xuất hiện và ngày càng mãnh liệt về cường độ trên phạm vi toàn thế giới.

Các hiện tượng mưa lớn, xoáy giật, lốc, đặc biệt là các cơn bão ngày càng mạnh lên và quy luật hoạt động ngày càng bất thường và có sức tàn phá kinh hoàng. Hiện nay do nhu cầu phát triển nền kinh tế biển và đảm bảo an ninh quốc phòng của cả nước nên ngày càng có nhiều hoạt động xã hội, kinh tế và quốc phòng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trên phạm vi toàn dải ven bờ biển nước ta. Vấn đề nêu trên làm nảy sinh hai khía cạnh đan xen lẫn nhau. Thứ nhất là các hoạt động kinh tế biển đã tác động đến sự thay đổi về môi trường biển theo xu thế bất lợi và góp phần làm gia tăng thiên tai và thiệt hại vì thiên tai.

Các công trình ven bờ, các hồ chứa nước tại thượng nguồn các con sông đã ngăn dòng vận chuyển bùn cát tự nhiên làm bồi lấp các luồng tàu và gây ra xói lở tại nhiều nơi. Rừng ngập mặn và phòng hộ bị tàn phá do nhu cầu nuôi trồng hải sản không những làm cho môi trường sinh thái bị mất cân bằng mà còn tạo điều kiện cho sóng lớn tác động trực tiếp vào đê biển. Những khảo sát thực tế sau cơn bão số 7 (bão Damrey) ngày 27/9/2005 đã cho thấy khu vực ven biển có rừng ngập mặn hoặc rừng phòng hộ bảo vệ thì đê biển không bị vỡ. Thứ hai các hoạt động nền kinh tế biển kéo theo sự tập trung đông dân cư, các công trình có giá trị và tài sản lớn nên khi thiên tai xảy ra thì mức độ thiệt hại rất lớn.

Thuỷ triều và nước dâng do bão ở vùng biển phía bắc nước ta thuộc vào loại lớn. Hơn nữa vùng đồng bằng Bắc Bộ đặc biệt là vùng Hải Phòng, Nam Định là vùng chịu nhiều ảnh hưởng của nứơc dâng do bão, sóng gió và thuỷ triều. Chính vì vậy mà trong hai thập kỷ qua hai hiện tượng này đã được nghiên cứu khá nhiều và chi tiết kể cả trong và ngoài nước. Để góp phần làm giảm nhẹ thiên tai, phát triển nền kinh tế biển bền vững, vấn đề nghiên cứu, đánh giá và đề ra những biện pháp cụ thể là nhiệm vụ rất lớn và cấp thiết.

Hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta, việc nghiên cứu và tính toán nước dâng do bão đều thể hiện trong hai phương pháp. Phương pháp mô hình số trị và phương pháp mô hình số trị thuỷ động. Phương pháp thống kê thuần tuý là phương pháp đơn giản nhất. Đây là phương pháp thiết lập mối tương quan giữa nước dâng và một số tham số bão vừa đơn giản, vừa mang tính chất địa phương cho từng vùng biển cụ thể.

Nơi có nhiều số liệu, các nhà chuyên môn có thể đưa ra những mối tương quan cần thiết. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cheng (Hồng Kông) sau khi nghiên cứu về nước dâng bằng phương pháp thống kê đã đưa ra một số công thức kinh nghiệm tính toán nước dâng do bão tại khu vực Hồng Kông: h = 0.16 Trong đó h là nước dâng cực đại, G – gió giật cực đại, W10 – giá trị gió cực đại trong 10 phút, W60 – giá trị gió cực đại trong 60 phút, Pc – giá trị khí áp ở tâm. Tương tự với các công thức thực nghiệm trên các tác giả Nhật Bản như Myazaki (1957), Isozaki (1970) cũng đề nghị sử dụng các công thức thực nghiệm của mình cho vùng biển Nhật Bản. Tại Việt Nam, các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu nước dâng theo hướng chủ yếu là sử dụng phương pháp mô hình số trị.

Cơ sở của phương pháp mô hình số trị là xuất phát từ hệ phương trình thuỷ động. Qua một số công đoạn tham số hoá, biểu thức hoá và sơ đồ hoá (SPLASH). Đại diện cho phương pháp này tại nước ta là Vũ Như Hoán, Nguyễn Vũ Thắng. Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản hơn phương pháp số trị thuỷ động.

Các kết quả nghiên cứu theo phương pháp này của Vũ Như Hoán đã được sử dụng để dự báo nước dâng cho vùng biển Việt Nam. Phương pháp này cũng được áp dụng tính toán nước dâng do bão vùng biển Hải Phòng qua công trình của Nguyễn Vũ Thắng. Nhược điểm của phương pháp này là độ chính xác không lớn do phải tham số hoá các yếu tố trong bão. Hơn nữa nó cần một lượng số liệu thực đo về bão và nước dâng đủ lớn để xác định được các tham số trong mối quan hệ.

Vì vậy phạm vi áp dụng rất hạn chế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu mối quan hệ giữa dao động mực nước ven biển và các tham số bão tại vịnh Bắc Bộ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các yếu tố bão ảnh hưởng đến dao động mực nước ven biển trong khu vực này. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các hiện tượng tự nhiên mà còn có thể hỗ trợ trong việc dự báo và quản lý rủi ro liên quan đến bão và nước dâng. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi các tham số bão để có thể đưa ra các biện pháp ứng phó kịp thời, từ đó bảo vệ an toàn cho cộng đồng ven biển.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ khảo sát mối quan hệ giữa kĩ năng mô phỏng quỹ đạo bão và cường độ bão cho khu vực tây bắc thái bình dương bằng hệ thống dự báo tổ hợp, nơi nghiên cứu mối liên hệ giữa mô phỏng bão và cường độ bão. Bên cạnh đó, tài liệu Đánh giá khả năng ứng dụng của bộ mô hình wrf delft3d flow wave trong mô phỏng mực nước dâng do bão sẽ cung cấp thông tin về các mô hình mô phỏng mực nước dâng, giúp bạn hiểu rõ hơn về các công cụ dự báo. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ tính toán đường bao cực đại của nước dâng do bão sẽ giúp bạn nắm bắt các phương pháp tính toán liên quan đến nước dâng do bão, từ đó có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các góc nhìn đa dạng về các vấn đề liên quan đến bão và dao động mực nước, giúp bạn có thêm thông tin quý giá trong lĩnh vực này.