Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, dân số và giáo dục là hai yếu tố giữ vai trò nền tảng và có mối quan hệ tương tác mật thiết. Quy mô và sự gia tăng dân số tạo ra nguồn nhân lực cho nền kinh tế, trong khi giáo dục đảm nhiệm vai trò đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và chất lượng cho lực lượng lao động. Tại Việt Nam, quy mô dân số lớn cùng với yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đặt ra áp lực lớn đối với việc cân đối giữa tốc độ phát triển dân số và năng lực đáp ứng của hệ thống giáo dục.
Tại tỉnh An Giang — một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long có đường biên giới giáp Campuchia và cơ cấu dân tộc đa dạng — các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận vấn đề dân số và giáo dục một cách riêng lẻ (như các kế hoạch xã hội hóa giáo dục hay các đề án cơ sở vật chất), chưa đi sâu phân tích mối quan hệ tác động qua lại giữa hai lĩnh vực. Do đó, khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và giáo dục tỉnh An Giang" được tác giả Kiều Thị Nhị Kiều (ngành Sư phạm Địa lý, Trường Đại học An Giang) thực hiện nhằm làm rõ mối quan hệ này trên địa bàn tỉnh.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Nhận thức rõ thực trạng phát triển dân số và thực trạng phát triển giáo dục của tỉnh An Giang; trên cơ sở đó phân tích tác động hai chiều giữa biến động dân số và sự phát triển giáo dục tại địa phương.
- Rút ra những bất hợp lý còn tồn tại trong mối tương quan giữa phát triển dân số và giáo dục; từ đó định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát triển dân số và giáo dục hợp lý hơn cho tỉnh An Giang trong giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về dân số, giáo dục và mối quan hệ tương tác giữa hai yếu tố.
- Phân tích thực trạng phát triển dân số và giáo dục (trọng tâm là giáo dục phổ thông) của tỉnh An Giang giai đoạn 2010–2018, đánh giá các mặt tích cực và hạn chế.
- Làm rõ sự phân hóa lãnh thổ và các điểm bất hợp lý trong tương quan giữa dân số và giáo dục trên địa bàn tỉnh.
- Đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp phát triển dân số và giáo dục phù hợp trong tương lai.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Mối quan hệ tương tác giữa thực trạng phát triển dân số và thực trạng phát triển giáo dục (chủ yếu là bậc phổ thông); các bất hợp lý phát sinh và giải pháp giải quyết.
- Không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh An Giang (gồm 2 thành phố: Long Xuyên, Châu Đốc; 1 thị xã: Tân Châu; 8 huyện: An Phú, Phú Tân, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Thoại Sơn).
- Thời gian: Giai đoạn 2008–2018 (tập trung phân tích chuỗi số liệu từ năm 2010 đến năm 2018).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận của Địa lý dân cư và Xã hội học giáo dục, bao gồm các khái niệm và công thức tính toán nhân khẩu học:
- Chỉ số dân số: Tỷ suất sinh thô ($CBR = \frac{B}{P} \times 1000$), tổng tỷ suất sinh ($TFR = \sum ASFR_x$), tỷ suất tử thô ($CDR = \frac{D}{P} \times 1000$), tỷ suất tử đặc trưng theo tuổi ($ASDR_x$), gia tăng tự nhiên ($NI = B - D$), tỷ suất gia tăng tự nhiên ($RNI$), gia tăng cơ học ($NM = I - O$), tỷ suất di dân thuần túy ($NMR$), và tỷ lệ gia tăng dân số ($PGR = \frac{B - D + I - O}{P} \times 1000$).
- Cơ cấu dân số: Phân tích cơ cấu sinh học (tuổi và giới tính, tiêu chuẩn xác định dân số trẻ/dân số già theo Henry S. Siegel, tỷ lệ phụ thuộc, cơ cấu dân số vàng) và cơ cấu xã hội (lao động theo 3 khu vực kinh tế, trình độ học vấn, thành phần dân tộc).
- Hệ thống giáo dục và chỉ tiêu giáo dục: Khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp; hệ thống giáo dục quốc dân (mầm non, phổ thông, chuyên nghiệp, đại học, sau đại học); các chỉ tiêu đánh giá trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật.
- Mối quan hệ hai chiều:
- Dân số tác động đến giáo dục: Ảnh hưởng trực tiếp thông qua quy mô và tốc độ tăng dân số đến quy mô nhu cầu giáo dục phổ thông ($E = P \times e$), tác động của cơ cấu tuổi đến cấu trúc bậc học, tác động của phân bố không gian dân cư; ảnh hưởng gián tiếp qua mức thu nhập bình quân và chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục.
- Giáo dục tác động đến dân số: Ảnh hưởng qua tuổi kết hôn và lý do kết hôn, mức sinh (học vấn cao tương quan nghịch với mức sinh), mức chết trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi, luồng di cư nông thôn - thành thị, và giáo dục giới tính đối với việc giảm mất cân bằng giới tính khi sinh.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê tổng hợp: Thu thập, xử lý, đối chiếu và hệ thống hóa dữ liệu thống kê từ nhiều cơ quan chuyên môn.
- Phương pháp phân tích thông tin: Phân loại, đánh giá mức độ chính xác của các tài liệu, báo cáo ngành và niên giám thống kê.
- Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Trực quan hóa các mối liên hệ không gian, phân bố mật độ dân cư, cơ cấu nhóm tuổi, quy mô trường lớp và biến động học sinh bằng bản đồ hành chính và các dạng biểu đồ đường, cột, cơ cấu.
- Phương pháp toán học - thống kê: Áp dụng phương trình hồi quy tuyến tính đơn biến dạng $Y = aX + b$ và tính hệ số tương quan ($r$) để kiểm chứng mức độ chặt chẽ và chiều hướng tác động giữa các biến số dân số và giáo dục (như mức sinh và số con mong muốn, tỷ lệ giảm học sinh trên quy mô dân số).
Nguồn dữ liệu
Số liệu thứ cấp chính thức từ Cục Thống kê tỉnh An Giang (Niên giám Thống kê tỉnh An Giang các năm từ 2010 đến 2018), Tổng cục Thống kê, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh An Giang, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang, cùng các báo cáo của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và UNICEF.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về dân số và giáo dục
Chương này tổng kết hệ thống khái niệm chuẩn mực về nhân khẩu học và giáo dục học. Tác giả phân tích cơ chế tác động tương hỗ giữa hai lĩnh vực:
- Dân số đóng vai trò là yếu tố đầu vào xác định quy mô mạng lưới trường lớp, đội ngũ giáo viên và ngân sách giáo dục. Công thức $E = P \times e$ cho thấy áp lực mở rộng giáo dục phụ thuộc trực tiếp vào quy mô dân số trung bình ($P$) và tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường ($e$).
- Giáo dục tác động ngược lại đến dân số qua 4 khía cạnh: kéo dài tuổi kết hôn lần đầu (nhóm tốt nghiệp THPT trở lên kết hôn muộn hơn nhóm chưa biết chữ khoảng 1,6 năm); giảm mức sinh thông qua nâng cao nhận thức KHHGĐ; giảm tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh; thúc đẩy dịch chuyển lao động và định hình cơ cấu giới tính.
- Thực tiễn Việt Nam năm 2018: Dân số đạt trên 95 triệu người, đứng thứ 14 thế giới, mật độ 308 người/km², tỷ lệ dân số phụ thuộc là 44,0% (trẻ em phụ thuộc 33,1%, người cao tuổi 10,9%). Về giáo dục, tỷ lệ dân số trong độ tuổi đi học phổ thông đang đến trường đạt 91,7%; tỷ lệ biết chữ từ 15 tuổi trở lên đạt 95,7% (nam 97,0%, nữ 94,6%); số năm đi học bình quân năm 2018 là 8,6 năm so với số năm kỳ vọng là 11,5 năm.
Chương 2: Thực trạng về mối quan hệ giữa dân số và giáo dục tỉnh An Giang giai đoạn 2010–2018
Chương 2 là phần trọng tâm của khóa luận, phân tích chi tiết các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, biến động nhân khẩu và giáo dục của tỉnh An Giang.
1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu
- Diện tích tự nhiên: 3.533,7 km² (theo bảng hành chính năm 2018 là 3.485 km²), chiếm 1,03% diện tích cả nước, gồm 156 xã/phường/thị trấn.
- Tăng trưởng kinh tế: GRDP năm 2018 tăng 5,23%; GRDP bình quân đầu người đạt 36,996 triệu đồng (tương đương 1.634 USD). Cơ cấu kinh tế: Khu vực I chiếm 29,32%, Khu vực II chiếm 14,81%, Khu vực III chiếm 54,26%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 3.541.000 đồng/tháng; tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều giảm còn 3,67%.
2. Thực trạng dân số tỉnh An Giang (2010–2018)
- Quy mô và gia tăng dân số: Dân số trung bình năm 2018 đạt 2.151.000 người, mật độ 612 người/km² (đứng thứ 4 ĐBSCL). Dân số hầu như không tăng mà có xu hướng giảm nhẹ so với năm 2009 (giảm hơn 234.000 người) do xuất cư lớn.
- Chuyển động tự nhiên và cơ học:
| Năm |
Tỷ suất sinh thô (‰) |
Tỷ suất tử thô (‰) |
Tỷ suất gia tăng tự nhiên (‰) |
Tỷ suất nhập cư (‰) |
Tỷ suất xuất cư (‰) |
Tỷ suất di cư thuần (‰) |
Tỷ lệ gia tăng dân số thực (‰) |
| 2010 |
16,70 |
5,70 |
11,00 |
3,60 |
11,90 |
-8,30 |
0,03 |
| 2011 |
16,50 |
6,20 |
10,30 |
3,90 |
16,00 |
-12,20 |
0,03 |
| 2012 |
16,30 |
6,80 |
9,50 |
2,20 |
11,20 |
-9,10 |
0,10 |
| 2014 |
16,15 |
6,80 |
9,35 |
4,30 |
12,70 |
-8,40 |
0,11 |
| 2016 |
16,05 |
6,73 |
9,32 |
1,30 |
10,40 |
-9,10 |
0,07 |
| 2018 |
15,95 |
6,69 |
9,26 |
2,05 |
11,93 |
-9,88 |
0,11 |
- Cơ cấu dân số:
- Độ tuổi: Năm 2018, nhóm 0–14 tuổi chiếm 24% (459.575 người), nhóm 15–59 tuổi chiếm 63%, nhóm từ 60 tuổi trở lên chiếm 13%. Tổng tỷ lệ phụ thuộc là 37%, An Giang đang trong thời kỳ "cơ cấu dân số vàng".
- Giới tính: Tỷ lệ nữ chiếm 50,49%, nam chiếm 49,51% (tỷ lệ nữ/nam toàn tỉnh là 1,02). Tỷ số giới tính khi sinh năm 2018 ở mức cao: 113,5 bé trai/100 bé gái (tăng từ 108,3/100 năm 2010).
- Dân tộc: Người Kinh chiếm đa số; các dân tộc thiểu số chiếm 5,17% dân số toàn tỉnh (114.632 người gồm: Khmer chiếm 75,54% khối dân tộc thiểu số, tập trung tại Tri Tôn và Tịnh Biên; Hoa chiếm 12,5%; Chăm chiếm 12% tập trung tại An Phú và Tân Châu).
- Phân bố dân cư: Dân số thành thị chiếm 30,81%, nông thôn chiếm 69,19%. Mật độ phân bố không đều: cao nhất tại TP. Long Xuyên (2.485 người/km²), TP. Châu Đốc (1.062 người/km²); thấp nhất tại huyện Tri Tôn (225 người/km²) và Tịnh Biên (344 người/km²).
3. Thực trạng giáo dục tỉnh An Giang
- Quy mô giáo dục phổ thông: Mạng lưới trường học được quy hoạch, sáp nhập thu gọn đầu mối:
| Năm học |
Số trường phổ thông |
Số lớp học |
Số giáo viên |
Số học sinh phổ thông |
| 2010–2011 |
602 |
10.092 |
17.651 |
329.922 |
| 2015–2016 |
548 |
- |
- |
- |
| 2016–2017 |
541 |
- |
- |
- |
| 2017–2018 |
537 |
- |
- |
- |
| 2018–2019 |
536 |
10.238 |
- |
- |
(Cơ cấu trường năm 2018–2019 gồm: 328 trường Tiểu học, 157 trường THCS, 43 trường THPT, 3 trường PT cơ sở, 5 trường Trung học).
- Chất lượng và phổ cập giáo dục:
- Tỷ lệ học sinh tiểu học lên lớp đạt trên 95%, hoàn thành chương trình tiểu học đạt 99,71%.
- Tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 99,75% (học sinh giỏi chiếm 35%).
- Tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm 2019 đạt 98,8%.
- Cơ sở vật chất và tài chính:
- Năm học 2018–2019, ngân sách sự nghiệp giáo dục cấp tỉnh được giao là 487 tỷ đồng. Tiếp nhận nguồn vốn ODA (dự án phát triển giáo dục trung học giai đoạn 2 tài trợ 23 tỷ đồng, vốn đối ứng tỉnh 11 tỷ đồng cho THPT chuyên Thủ Khoa Nghĩa, THPT Vĩnh Xương, THPT Chi Lăng/Chí Thanh); UNICEF tài trợ 23 nhà vệ sinh (1,3 tỷ đồng); Đề án kiên cố hóa trường lớp 2016–2020 phê duyệt 109 phòng học (kinh phí 87 tỷ đồng).
- Các loại hình giáo dục khác: Đào tạo nghề năm 2018 tổ chức 424 lớp cho 12.000 học viên (phi nông nghiệp: 238 lớp/6.480 người; nông nghiệp: 186 lớp/5.520 người; đào tạo theo đơn đặt hàng 5 doanh nghiệp cho 1.000 lao động với trên 90% có việc làm). Bậc cao đẳng, đại học có Trường ĐH An Giang (tuyển sinh 3.000 chỉ tiêu/năm ở 39 ngành ĐH), Cao đẳng Y tế An Giang (330 sinh viên/năm), Cao đẳng Nghề An Giang (600 sinh viên CĐ/năm).
4. Đánh giá chung về mối quan hệ giữa dân số và giáo dục
- Mặt tích cực: Tỷ suất sinh giảm giúp hạ nhiệt áp lực quá tải trường lớp bậc tiểu học; chất lượng giáo dục nâng cao góp phần cải thiện trình độ dân trí, nâng tuổi thọ bình quân của tỉnh từ 74,1 tuổi (2010) lên 74,9 tuổi (2018).
- Bất hợp lý và tồn tại: Tỷ suất xuất cư cao (-9,88‰ năm 2018) dẫn đến nguy cơ "chảy máu chất xám" và biến động quy mô học sinh; mất cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục gia tăng (113,5/100); cơ sở vật chất trường lớp vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc (Tri Tôn, Tịnh Biên) còn thiếu thốn, tỷ lệ trường chuẩn quốc gia còn thấp; kết quả phổ cập giáo dục ở vùng khó khăn thiếu tính bền vững.
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển dân số và giáo dục tỉnh An Giang
Dựa trên các phân tích ở Chương 2, chương này đưa ra khung định hướng và các nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp dân số: Tiếp tục duy trì mức sinh thay thế hợp lý; đẩy mạnh tuyên truyền giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; phát triển các khu - cụm công nghiệp tại chỗ để tạo việc làm, hạn chế tình trạng xuất cư tự do sang vùng Đông Nam Bộ; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Nhóm giải pháp giáo dục: Rà soát, quy hoạch mạng lưới trường lớp phù hợp với biến động dân cư từng huyện; tăng cường đầu tư kiên cố hóa trường lớp và nhà vệ sinh đạt chuẩn; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, khắc phục lối truyền thụ kiến thức một chiều; nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho cán bộ quản lý giáo dục; củng cố tính bền vững của công tác phổ cập giáo dục tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Giải pháp gắn kết dân số - giáo dục: Lồng ghép giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản và bình đẳng giới vào chương trình chính khóa và ngoại khóa của trường phổ thông; gắn kết kế hoạch đào tạo nghề với nhu cầu phân công lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.
Kết quả và đóng góp của khóa luận
Kết quả nghiên cứu chính
- Làm rõ bức tranh nhân khẩu học tỉnh An Giang (2010–2018): Xác lập hệ thống số liệu cho thấy mức sinh giảm dần (CBR từ 16,7‰ xuống 15,95‰), gia tăng tự nhiên giảm từ 11,0‰ xuống 9,26‰; khẳng định An Giang là địa phương có tỷ suất xuất cư cao liên tục (di cư thuần dao động từ -8,2‰ đến -12,2‰), làm quy mô dân số thực tế sụt giảm nhẹ (năm 2018 đạt 2.151.000 người).
- Khái quát thực trạng phát triển giáo dục: Đánh giá xu hướng quy hoạch tinh gọn mạng lưới trường phổ thông (giảm từ 602 trường năm 2010 xuống 536 trường năm 2018), trong khi số lớp duy trì ở mức 10.238 lớp và chất lượng đầu ra đạt cao (tốt nghiệp THPT đạt 98,8%, THCS đạt 99,75%).
- Chỉ ra các điểm nghẽn tương tác: Sự phân hóa lãnh thổ sâu sắc giữa khu vực đô thị (Long Xuyên, Châu Đốc) và miền núi, biên giới (Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú) về cơ hội tiếp cận giáo dục đạt chuẩn; tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ngày càng tăng (113,5 bé trai/100 bé gái); áp lực thiếu hụt lao động trẻ có tay nghề do luồng di cư tìm việc làm ngoài tỉnh.
Đóng góp của đề tài
- Là công trình nghiên cứu ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Địa lý tích hợp hai phân hệ Dân số và Giáo dục trong một thể tổng hợp lãnh thổ tại tỉnh An Giang.
- Cung cấp chuỗi dữ liệu thực chứng giai đoạn 2010–2018 có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng (Cục Thống kê, Sở GD&ĐT), làm tài liệu tham khảo cho việc phân tích kinh tế - xã hội địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
- Hạn chế:
- Khóa luận chủ yếu tập trung phân tích sâu phân hệ giáo dục phổ thông; các bậc học mầm non, giáo dục thường xuyên, cao đẳng - đại học và dạy nghề mới chỉ dừng lại ở mức độ thống kê mô tả khái quát.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp giữa các ban ngành (thống kê, giáo dục, y tế) đôi lúc chưa hoàn toàn đồng nhất về thời điểm và tiêu chí phân loại.
- Chưa áp dụng sâu các mô hình kinh tế lượng phức tạp để lượng hóa hệ số co giãn giữa mức chi tiêu giáo dục và biến động nhân khẩu học hộ gia đình.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu tác động của cơ cấu dân số vàng và già hóa dân số đến nhu cầu đào tạo nghề và giáo dục đại học tại An Giang.
- Khảo sát vi mô tác động của luồng di cư lao động tự do đến việc học tập của trẻ em bị bỏ lại ở khu vực nông thôn An Giang.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên ngành Sư phạm Địa lý, Địa lý học, Xã hội học: Tham khảo khung lý thuyết, phương pháp xử lý số liệu nhân khẩu học và phương pháp biểu hiện bản đồ - biểu đồ trong nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội địa phương.
- Giáo viên Địa lý tại An Giang: Sử dụng các số liệu và bảng biểu thực tế để tích hợp vào các bài giảng Địa lý địa phương tỉnh An Giang cấp THCS và THPT.
- Cán bộ quản lý giáo dục và dân số cấp huyện/tỉnh: Tham khảo các phân tích về sự mất cân đối trường lớp, tỷ lệ di cư thuần và bất bình đẳng tiếp cận giáo dục giữa các tiểu vùng để xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu dân số tỉnh An Giang năm 2018 mang đặc điểm gì nổi bật?
Năm 2018, An Giang mang đặc trưng của cơ cấu dân số vàng với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động (15–59 tuổi) chiếm 63%, nhóm 0–14 tuổi chiếm 24% và nhóm từ 60 tuổi trở lên chiếm 13%. Tổng tỷ số phụ thuộc của tỉnh là 37%.
2. Tình hình di cư tác động như thế nào đến quy mô dân số tỉnh An Giang giai đoạn 2010–2018?
An Giang là tỉnh xuất cư thuần với tỷ suất di cư thuần liên tục âm trong suốt giai đoạn (từ -8,2‰ đến -12,2‰; năm 2018 là -9,88‰). Tỷ suất xuất cư cao gấp nhiều lần nhập cư khiến quy mô dân số tỉnh hầu như không tăng mà giảm nhẹ so với năm 2009 (giảm hơn 234.000 người), chủ yếu diễn ra ở khu vực nông thôn do người dân đi làm ăn xa hoặc sinh viên đi học ngoài tỉnh.
3. Quy mô mạng lưới trường phổ thông của tỉnh An Giang biến động ra sao trong giai đoạn nghiên cứu?
Mạng lưới trường phổ thông có xu hướng thu gọn và sáp nhập, giảm 66 trường (từ 602 trường năm học 2010–2011 xuống còn 536 trường năm học 2018–2019). Trong đó, bậc tiểu học có số lượng trường giảm nhiều nhất (từ 395 xuống 328 trường), THCS tăng nhẹ (từ 155 lên 157 trường), THPT giảm từ 49 xuống 43 trường.
4. Tỷ số giới tính khi sinh của An Giang giai đoạn 2010–2018 có xu hướng như thế nào?
Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại tỉnh có chiều hướng gia tăng và chưa được cải thiện, tăng từ 108,3 bé trai/100 bé gái (năm 2010) lên 113,5 bé trai/100 bé gái (năm 2018), phản ánh tâm lý chuộng con trai vẫn còn tồn tại trong một bộ phận dân cư.
5. Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại An Giang trong năm 2018 đạt mức nào?
Toàn tỉnh đã tổ chức 424 lớp đào tạo nghề cho 12.000 học viên (đạt 100% kế hoạch năm) với kinh phí trên 9,9 tỷ đồng. Trong đó, lĩnh vực phi nông nghiệp có 238 lớp (6.480 học viên), nông nghiệp có 186 lớp (5.520 học viên); các lớp đào tạo theo đơn đặt hàng doanh nghiệp đạt tỷ lệ có việc làm sau đào tạo trên 90%.
Kết luận
Khóa luận "Nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và giáo dục tỉnh An Giang" của tác giả Kiều Thị Nhị Kiều đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và phản ánh thực trạng biến động nhân khẩu học cũng như sự phát triển của ngành giáo dục tỉnh An Giang giai đoạn 2010–2018. Nghiên cứu chỉ ra những mâu thuẫn thực tế như áp lực xuất cư lớn, mất cân bằng giới tính khi sinh gia tăng và khó khăn về cơ sở vật chất trường học vùng biên giới, dân tộc thiểu số. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, hướng đến việc gắn kết chính sách dân số với chiến lược quy hoạch giáo dục nhằm phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội địa phương.