phần mở đầu và kết luận, nội dung gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dân số và giáo dục Chƣơng 2: Thực trạng về mối quan hệ giữa dân số và giáo dục tỉnh An Giang giai đoạn 2008 – 2018 Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển dân số và giáo dục tỉnh An Giang xii Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DÂN SỐ VÀ GIÁO DỤC 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DÂN SỐ VÀ GIÁO DỤC 1.1 Các khái niệm và vấn đề liên quan đến dân số 1. Dân cư, dân số Dân cƣ là những tập hợp ngƣời sống chung trên một lãnh thổ đƣợc đặc trƣng bởi những mối liên hệ về mặt xã hội cũng nhƣ những mối quan hệ qua lại về mặt kinh tế, trong đó có việc phân công lao động và cƣ trú theo lãnh thổ. Dân số là tập hợp của những con ngƣời đang sống ở một vùng địa lý hoặc một không gian nhất định, là nguồn lao động quý báo cho sự phát triển kinh tế - xã hội, thƣờng đƣợc đo bằng cuộc điều tra dân số và biểu hiện bằng tháp dân số.
Gia tăng dân số a. Gia tăng tự nhiên: là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự tăng trƣởng dân số và gián tiếp phản ánh trình độ phát triển KT – XH của một nƣớc trong khu vực. Tỷ suất sinh Tỷ suất sinh thô (CBR: Crude Birth Rate): “là số trẻ em sinh ra sống trên 1000 ngƣời trong một năm nhất định. Hầu hết các tỷ suất sinh hằng năm, liên kết các sự kiện nhân khẩu học với dân số tại thời điểm giữa năm, thời điểm đƣợc coi là dân số trung bình khi sự kiện có khả năng xảy ra trong cả năm” (Nguyễn Minh Tuệ, 2012).
CBR= Trong đó: B là số trẻ em sinh ra trong một năm của một nƣớc hay một khu vực nào đó P là dân số trung bình trong năm Tỷ suất sinh hoàn toàn không giống nhau theo thời gian và không gian bởi vì có nhiều yếu tố tác động đồng thời tới quá trình này. Tỷ suất sinh thô không cho phép so sánh dân cƣ có cấu trúc khác nhau, do đó trong nghiên cứu dân số ngƣời ta còn sử dụng tỷ suất sinh tổng quát, tỷ suất sinh đặc trƣng theo tuổi, tỷ suất sinh của phụ nữ có chồng. Tổng tỷ suất sinh (TFR: Total Fertility Rate) “là số con trung bình sinh ra còn sống của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ qua các năm sinh đẻ họ tuân theo các tỷ suất đặc trƣng theo tuổi của một năm nhất định” (Nguyễn Minh Tuệ, 2012). TFR=∑ Trong đó ASFRx là tỷ suất đặc trƣng theo tuổi tính bằng số trẻ em sinh ra trong năm bởi số phụ nữ ở độ tuổi x ( ) chia số phụ nữ ở độ tuổi x ( ).
1 Tổng tỷ suất sinh là một thƣớc đo tổng hợp, không có ngƣời phụ nữ nào có thể trải qua suốt 3 thập kỷ lại tuân theo các tỷ suất sinh đặc trƣng theo tuổi của một năm nhất định. Thực tế các tỷ suất sinh đặc trƣng theo tuổi thay đổi và dao động từ năm này qua năm khác. Các nƣớc phát triển TFR dƣới 2 con/phụ nữ, còn các nƣớc đang phát triển TFR trên 5 con/phụ nữ. Tỷ suất tử: Tỷ suất tử thô (CDR: Crude Death Rate) “là số ngƣời tử vong trong năm so với 1000 dân (‰)”(Nguyễn Minh Tuệ, 2012).
CDR= Trong đó: D là số ngƣời chết trong năm P là số dân trung bình năm Tỷ suất tử cũng thay đổi mạnh theo không gian và thời gian. Do điều kiện sống ngày càng đƣợc cải thiện nên tỷ suất tử thô nói chung có xu hƣớng giảm xuống rõ rệt, tuy nhiên về không gian vẫn có sự khác nhau giữa các nƣớc. Trong nghiên cứu dân số không thể so sánh CDR giữa hai dân số có cấu trúc khác nhau vì tỷ suất chết thô có tác động đặc biệt bởi cơ cấu tuổi do đó phải cẩn trọng trong khi so sánh tỷ suất chết giữa các nƣớc, phải điều chỉnh những khác nhau về cơ cấu tuổi trƣớc khi đƣa ra kết luận về điều kiện y tế, kinh tế hoặc môi trƣờng của một nƣớc. Cũng nhƣ trong nghiên cứu tỷ suất sinh, ta sử dụng tỷ suất chết đặc trƣng theo tuổi: ASDRx = Trong đó Dx là số ngƣời chết trong độ tuổi x và Px là dân số ở độ tuổi x.
Vì mức độ chết biến đổi lớn theo giới tính, chủng tộc, tỷ suất chết đặc trƣng theo tuổi thƣờng tính riêng cho nam và nữ, cho các nhóm chủng tộc khác nhau trong một dân số. Ngoài ra còn tính tỷ suất tử vong theo nguyên nhân, tỷ suất chết trẻ em dƣới 1 tuổi hay tỷ số chết mẹ do những biến chứng về thai nghén hoặc sinh đẻ trong một năm trên 100.000 trẻ sinh ra sống trong năm đó. Gia tăng tự nhiên Gia tăng tự nhiên (NI: Natural Increase) là hiệu số giữa số sinh và tử trong một thời gian nhất định. NI = B – D Tỷ suất gia tăng tự nhiên Tỷ suất gia tăng tự nhiên (RNI: Rate of Natyral Increase) là tỷ số giữa gia tăng tự nhiên và dân số trung bình trong cùng thời kỳ.
RNI = 2 Tỷ suất gia tăng tự nhiên ảnh hƣởng mạnh mẽ đến tình hình nhân khẩu và là động lực phát triển dân số, quyết định quy mô dân số toàn cầu. Vì thế, muốn hạn chế gia tăng dân số thì phải giảm gia tăng dân số tự nhiên. Gia tăng cơ học Biến động dân số không chỉ có biến động do tự nhiên mà còn biến động bởi các luồng di cƣ gọi là gia tăng cơ học gồm hai bộ phận xuất cƣ và nhập cƣ, có thể xác định bằng 2 cách: - Lƣợng tăng (giảm) tuyệt đối (NM): xác định bằng chênh lệch giữa số ngƣời đến (I) và số ngƣời đi khỏi (O) địa phƣơng trong cùng một năm. NM = I – O - Lƣợng tƣơng đối hay tỷ suất tăng trƣởng cơ học – di dân thuần túy (NMR) là số ngƣời tăng (giảm) do di dân tính trên 1000 dân ở địa phƣơng (P) trong một năm.
Gia tăng dân số Gia tăng dân số (PGR: Population Growth Rate) là tỷ số giữa gia tăng tự nhiên và dân số trung bình trong cùng thời kỳ (Lâm Huỳnh Hải Yến, 2013). PGR = (với K = 1000) Nếu PGR = 0 có sự cân bằng giữa tỷ suất sinh, nhập cƣ và tỷ suất tử vong, xuất cƣ. Cơ cấu dân số Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng hợp số dân của một vùng thành các nhóm theo một hay nhiều tiêu thức. Cơ cấu sinh học (Bio – Compositio).
Gồm cơ cấu theo độ tuổi và giới tính: là 2 loại cơ cấu quan trọng nhất bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm DS nào, nó ảnh hƣởng đến mức sinh, mức chết, di dân trong nƣớc và quốc tế, tình trạng hôn nhân, lực lƣợng lao động, thu nhập quốc dân thuần túy, kế hoạch phát triển GD và an sinh xã hội. - Cơ cấu DS theo nhóm tuổi: là tập hợp các nhóm ngƣời đƣợc sắp xếp theo những lứa tuổi nhất định, nhóm 5 hoặc 10 độ tuổi. Các nhà dân số học còn chia thành 3 nhóm tuổi có liên quan đến việc sử dụng lao động gồm nhóm trẻ em (0 – 14 tuổi), nhóm tuổi lao động từ (15 – 59 hoặc 15 – 65 tuổi), nhóm già từ 60 hoặc 65 tuổi trở lên. Sự phân chia trên căn cứ vào kỳ vọng sống, ngày nay xuất hiện xu hƣớng gia tăng giới hạn trên của lớp tuổi trẻ và kéo dài giới hạn dƣới của lớp tuổi già.
Cơ cấu DS theo độ tuổi rất khác nhau giữa các nƣớc, nhóm nƣớc. Các nƣớc đang phát triển thƣờng có cơ cấu DS trẻ, mặc dù hiện nay các nƣớc này đang thực hiện chính sách hạn chế sinh đẻ, tỷ suất gia tăng giảm nhƣng số lƣợng dân số tuyệt đối vẫn tăng thêm trong một thời gian 3 dài nữa mới đi vào ổn định, đồng thời tỷ suất tử vong trẻ em thấp nhờ tiến bộ y học nên tình trạng trẻ hóa DS vẫn còn. Ngƣợc lại, các nƣớc kinh tế phát triển, DS già, tuổi thọ cao, tỷ lệ sinh dƣới mức thay thế, tỷ lệ tử vong ngƣời già cao cho nên quá trình già hóa DS dẫn đến suy giảm DS ngày càng sâu sắc và đáng lo ngại cho các nƣớc này về nguồn lao động dự trữ và chi phí phúc lợi xã hội cho ngƣời già. Một DS đƣợc xem là DS trẻ hay già nếu có cơ cấu DS theo tuổi đảm bảo tiêu chuẩn.
Theo bảng sau: Bảng 1. Tiêu chuẩn cho phép xác định cơ cấu dân số trẻ, dân số già Chỉ báo Dân số trẻ Dân số già Dân số trung gian Tỷ lệ trẻ em dƣới 15 40 <30 30 – 40 tuổi Tỷ lệ ngƣời trên 64 <5 10 5 – 10 tuổi Tuổi trung vị của dân <20 30 20 – 29 số Tỷ số ông/bà - cháu <15 >30 15 – 30 Nguồn: The methods and materials of demography, Henry S.Siegel and associates, Condensed Edition by Edward G. Bolling Green University, Bolling Green, Ohio. - Cơ cấu DS theo giới tính: là sự phân chia tổng hợp số dân của một vùng thành 2 nhóm nam và nữ.
Nghiên cứu cơ cấu DS theo giới tính có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn trong phân công lao động xã hội và áp dụng các chính sách KT – XH của mỗi quốc gia. Có 3 cách tính khác nhau: + Số lƣợng nam trên 100 nữ + Số lƣợng nữ trên 100 nam + Số lƣợng nam hoặc nữ trên tổng số dân (%) Tỷ suất nam nữ khác nhau do sinh đẻ tự nhiên khác nhau, cứ 100 trẻ em nữ sinh ra thì có 105 – 106 trẻ em nam, trong quá trình phát triển thì khoảng cách trên rút ngắn do nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ chuyển cƣ, khả năng chăm sóc bảo vệ sức khỏe, tƣ tƣởng trọng nam khinh nữ. làm cho cơ cấu giới tính hoàn toàn khác nhau giữa các nƣớc hay nhiều nƣớc trên thế giới hiện nay đang trong tình trạng báo động về mất cân đối giới tính. Cơ cấu xã hội bao gồm: Cơ cấu lao động (nguồn lao động, tỷ lệ dân số hoạt động kinh tế, cấu trúc nghề nghiệp của dân cƣ).
4 Nguồn lao động là bộ phận năng động nhất của dân cƣ, bao gồm số ngƣời trong độ tuổi lao động theo quy định pháp luật của mỗi nƣớc có khả năng lao động hay đang tích cực tìm kiếm việc làm và ngoài tuổi lao động thực tế có việc làm trong các ngành kinh tế quốc dân. DS chia theo khu vực hoạt động kinh tế gồm 3 khu vực: + KV1: Nông lâm ngƣ và khai thác ban đầu các loại khoáng sản vật liệu.