Đặt vấn đề Quá trình phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ như y tế, du lịch, thương mại… ở nước ta đã và đang làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt sự hiện diện của kim loại nặng trong môi trường đất, nước đã và đang là vấn đề môi trường được cộng đồng quan tâm. Kim loại nặng là những nguyên tố có số nguyên tử cao. Phần lớn các kim loại nặng trong đất sẽ ảnh hưởng và có thể đe dọa sức khỏe đến đời sống của nhiều loài sinh vật, trong đó có các loài sinh vật có đời sống gắn liền với môi trường đất như nhóm thân mềm chân bụng ở cạn (Gastropoda). Thông qua chuỗi thức ăn và thẩm thấu trực tiếp, kim loại nặng có thể làm thay đổi đặc điểm hình thái, sinh lý, tập tính, cũng như sự sinh trưởng phát triển.
Sự ảnh hưởng của kim loại nặng có thể làm thay đổi đa dạng sinh học của quần xã sinh vật như thay đổi số lượng cá thể của quần thể, thay đổi số lượng loài. Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường đất đã và đang diễn ra tại nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam. Bắc Kạn là một tỉnh có tài nguyên khoáng sản phong phú và có ngành khai khoáng phát triển, trong đó có nhiều các mỏ quặng sắt, chì, kẽm… với trữ lượng lớn. Chính vì vậy, các hoạt động khai khoáng ít nhiều cũng có ảnh hưởng và gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng.
Việc đánh giá phát hiện và xử lí ô nhiễm kim loại nặng trong đất, ngăn chặn sự ảnh hưởng của chúng đến sự sống sinh vật có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi vùng, mỗi quốc gia. Do vậy, xác định hàm lượng kim loại nặng trong môi trường là rất cần thiết và có thể thông qua các chỉ số đa dạng sinh học. Xuất phát từ cở sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa đa dạng sinh học thân mềm chân bụng (Gastropoda) trên cạn với hàm lượng chì, asen trong đất tại xã Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được mối quan hệ giữa hàm lượng chì, asen trong đất với đa dạng sinh học (mật độ, thành phần loài, số lượng loài, chỉ số margalef, chỉ số Peilou, chỉ số Shannon) của thân mềm chân bụng trên cạn tại xã Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
Từ đó góp phần làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng động vật thân mềm chân bụng ở cạn để dự báo hiện trạng kim loại nặng trong môi trường đất. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu, xác định hàm lượng chì, asen có trong đất tại xã Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. - Nghiên cứu, xác định thành phần loài, chỉ số đa dạng sinh học thân mềm chân bụng trên cạn ở KVNC. - Xác định mối quan hệ giữa hàm lượng Pb, As với các chỉ số đa dạng sinh học thân mềm chân bụng (Gastropoda) trên cạn.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về địa điểm nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Bằng Lũng trước đây là một xã của huyện Chợ Đồn nhưng đến 01/01/1997 tỉnh Bắc Kạn tái lập nên đã được công nhận là thị trấn Bằng Lũng của huyện Chợ Đồn. Thị trấn Bằng Lũng có tuyến tỉnh lộ 257 nối với thành phố Bắc Kạn, cách thành phố Bắc Kạn 46 km, và tỉnh lộ 254 cũng đi qua địa bàn.
Bằng Lũng nằm tại lưu vực thượng nguồn của sông Cầu, là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Chợ Đồn, có tổng diện tích tự nhiên là 2. Phía Bắc giáp xã Ngọc Phái, xã Phương Viên Phía Đông giáp xã Phương Viên, xã Đại Sảo Phía Nam giáp xã Đại Sảo, xã Bằng Lẵng Phía Tây giáp xã Bằng Lẵng, xã Yên Thượng, xã Ngọc Phái. Bản đồ địa chính khu vực thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (Nguồn: http://maps.com) 4 Theo báo cáo số 375/UBND của ủy ban nhân dân thị trấn Bằng Lũng ngày 13/9/2012: thị trấn Bằng Lũngcó trên 1703 hộ, dân số 6.523 người với 6.523 khẩu, gồm 8 dân tộc cùng sinh sống: Tày, Kinh, Nùng, Dao, Hoa, Mông, Mường, Sán Chí chung sống. Cộng đồng dân cư sinh sống tập trung thành 21 tổ dân phố gồm: Tổ 1, 2A, 2B, 3, 4, 5, 6A, 6B, 7, 8, 9, 10,11A, 11B, 12, 13, 14A, 14B, 15, 16A, 17 và 4 thôn bản gồm: Bản Duồng I, Bản Duồng II, Nà Pài, Bản Tàn [17].
Một vài nét khái quát về địa hình Thị trấn Bằng Lũng gồm có 3 dạng địa hình: Địa hình núi đá vôi: Địa hình chia cắt phức tạp bởi những dãy núi đá vôi với độ cao trên 1000m, xen giữa các thung lũng hẹp, độ dốc bình quân từ 250 đến 300. Địa hình núi đất: Các xã phía Nam thị trấn Bằng Lũng phần lớn là núi đất có độ cao phổ biến 400m đến trên 600m, độ dốc bình quân từ 200 đến 250. Địa hình chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối khá dày đặc. Bản đồ địa hình thị trấn Bằng Lũng (Nguồn: http://maps.com) 5 Địa hình thung lũng: phân bố dọc theo các sông, suối xen giữa các dãy núi cao.
Các điều kiện tự nhiên nhìn chung khá thuận lợi cho phát triển canh tác nông lâm nghiệp kết hợp, cây ăn quả, cây đặc sản. Khí hậu, thủy văn * Khí hậu: Là trung tâm của huyện, khí hậu của thị trấn Bằng Lũng mang những đặc trưng rõ nét của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Khí hậu trong năm chia thành 4 mùa, nhưng có hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 250C, mùa đông thường lạnh hơn và kéo dài hơn so với các địa phương lân cận, những tháng lạnh nhất của mùa đông thường xuất hiện hiện tượng sương muối, gây nhiều thiệt hại cho vật nuôi và hoa màu. * Thủy văn: Thị trấn Bằng Lũng có hệ thống sông suối khá dày đặc nhưng đa số là các nhánh thượng nguồn sông có đặc điểm chung là đầu nguồn, lòng sông ngắn, dốc, thuỷ chế thất thường. Giao thông đường sông ít phát triển do sông suối dốc, lắm thác ghềnh. Một số suối cạn nước vào mùa khô nhưng mùa mưa nước dồn nhanh có thể xảy ra lũ quét ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân.
Các nguồn tài nguyên * Tài nguyên đất Về thổ nhưỡng, theo tài liệu và bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/100.000 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn, trên địa bàn thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn có các loại đất như sau: + Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit chiếm phần lớn diện tích đất của thị trấn. Đất tơi xốp, độ ẩm cao, tầng đất dày, hàm lượng dinh dưỡng cao, tỷ lệ mùn 1,9-3,5%; tỷ lệ đạm trung bình nhưng nghèo lân tổng số. Đất này thích hợp cho các loài cây lương thực, cây công nghiệp nhưng thiếu nước, dễ bị hạn vào mùa khô. + Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét và đá biến chất; phân bố ở vùng đồi, núi thấp phân bố ở các vùng phía Nam.
Đất có tầng dày trung bình, có thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc pha sét. Ở những nơi còn thảm thực vật bị rừng che 6 phủ có tỷ lệ mùn khá cao (3%-3,5%). Tỷ lệ đạm trung bình, đất này thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp. Ở những nơi có độ dốc thấp, gần nguồn nước có thể trồng cây ăn quả.
Nhìn chung đất đai của thị trấn thuận lợi cho phát triển đa dạng các loại cây trồng và vật nuôi. Bản đồ các loại đất của toàn tỉnh Bắc Kạn (Nguồn: http://maps.com) *Tài nguyên khoáng sản Thị trấn Bằng Lũng là một trong những khu vực tập trung tài nguyên khoáng sản của huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Những khoáng sản có tiềm năng hơn cả là sắt, chì, kẽm và vật liệu xây dựng có trữ lượng lớn. Những mỏ đã được thăm dò và có trữ lượng lớn là mỏ Bằng Lũng khoảng 5.032 nghìn tấn có hàm lượng Pb 3,71 - 4,61% và Zn 1,31 - 1,60% với quặng ôxít và Pb 5,51 - 9,5% Zn 3,33 – 4,25% với 7 quặng sunphua.
Ngoài ra, vùng mỏ Chì - Kẽm Lủng Váng của thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn cũng là vùng mỏ lớn nhất Việt Nam, bên cạnh thành phần chính là chì (Pb), kẽm (Zn), còn có các quặng khác như: In, Fe, Ag, An. nằm trong đá vôi, đá hoa, đá phiến - vôi. Bản đồ khoáng sản của thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (Nguồn: http://maps.com) Tiếp đến là mỏ chì kẽm Nà Tùm nằm ở tọa độ 22009’51’’B 105034’42’’Đ gồm 4 thân quặng nằm trong trầm tích thuộc hệ tầng Mia Lé [1]. Đây là những lợi thế lớn để Bằng Lũng có thể phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp vật liệu xây dựng, từng bước tích luỹ và xây dựng các ngành công nghiệp khác sau này.
*Hiện trạng sử dụng đất của thị trấn Bằng Lũng Theo số liệu thống kê, tổng diện tích tự nhiên của thị trấn Bằng Lũng là 2491 ha, trong đó: đất đồi núi hơn 1800 ha chiếm khoảng >70% với những đặc điểm phù 8 hợp phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm, cây lâm nghiệp. Đất ruộng chiếm một phần nhỏ trong diện tích tự nhiên khoảng hơn 160 ha chiếm 6,4%, hình thành do quá trình bồi đắp, tích tụ phù sa các sông suối, có độ mùn cao, thích hợp để trồng các loại cây lương thực, cây hoa màu. Đất ở có 483,53 ha, chiếm 19,41% tổng diện tích tự nhiên. Ngoài ra, diện tích sông suối và mặt nước chuyên dùng trên địa bàn là 17,8 ha chiếm 0,715%.Tổng quan về kim loại nặng Pb, As trong đất 1.
Khái niệm - Chì là nguyên tố hóa học thuộc nhóm IV trong bảng hệ thống tuần hoàn được viết tắt là Pb và có số nguyên tử là 82. Chì có hóa trị phổ biến là II, có khi là IV. Chì có số nguyên tố cao nhất trong các nguyên tố bền. - Asen hoặc arsen là một nguyên tố hóa học có ký hiệu As và số nguyên tử 33.
Khối lượng nguyên tử của nó bằng 74,92. Asen phân bố nhiều nơi trong môi trường, chúng được xếp thứ 20 trong những nguyên tố hiện diện nhiều trong lớp vỏ của trái đất. Các nguồn phát sinh kim loại nặng * Nguồn gốc tự nhiên - Chì: Tương đối sẵn trong môi trường tự nhiên dưới dạng kim loại. Chì hiện diện tự nhiên trong đất với hàm lượng trung bình 10-84 ppm [27].