CHƯƠNG 1.1 Lý do thực hiện đề tài Giáo dục là nỗ lực bền vững, hệ thống và tự giác để khơi dậy tri thức, thái độ, giá trị, kỹ năng và những năng lực. Đọc là giá trị, là năng lực cốt lõi chung của mỗi cá nhân trong học tập, làm việc và giao tiếp. Đọc là hoạt động được sử dụng nhiều nhất trong quá trình học tập của mỗi cá nhân. Trên bình diện quốc gia, đọc đã được nhiều nước xem là lĩnh vực ưu tiên bậc nhất trong chương trình giáo dục cấp tiểu học nói riêng và phổ thông nói chung.
Vì lẽ đó, việc dạy học đọc ở trường phổ thông và phát triển năng lực đọc cho người học cũng như xây dựng văn hóa đọc trong nhà trường đã và đang được nhiều quốc gia pháp lí hóa thành các chiến lược và kế hoạch hành động cấp nhà nước. Về mặt xã hội, phát triển năng lực đọc vừa là một năng lực chuyên biệt của môn học tiếng mẹ đẻ, vừa là một năng lực học tập cốt lõi đã và đang trở thành xu hướng tiếp cận phổ quát đối với quá trình dạy ngôn ngữ nói chung và dạy đọc ở phổ thông nói riêng trên bình diện quốc tế trong nhiều thập kỉ qua. Về mặt cá nhân, kĩ năng đọc cực kì quan trọng đối với học sinh tiểu học trong việc học tập hiện tại và suốt đời bởi vì kĩ năng này là hiểu, sử dụng và phản hồi những bài đọc để thực hiện đích của cá nhân, để phát triển kiến thức và tiềm năng và để tham gia vào xã hội [44], [45], [68], [115], [131]. Liên quan đến thực trạng kĩ năng đọc của học sinh tiểu học, có chứng cứ từ khá nhiều nghiên cứu rằng học sinh nhìn chung đọc to lưu loát nhưng yếu trong đọc hiểu và ít hứng thú học đọc.
Các em thường có xu hướng đọc nguyên văn phần nào đó của văn bản để trả lời câu hỏi đòi hỏi sự nhận diện, chọn lọc và tổng hợp nhiều chi tiết quan trọng cùng một lúc; câu trả lời cho các câu hỏi đòi hỏi suy luận thường ít xuất phát từ các thông tin liên quan của văn bản đọc, và việc rút ý chính cũng như diễn đạt theo ngôn từ của mình về những điều hiểu được thường thật sự khó khăn đối với các em. Hơn nữa, cuộc khảo sát quốc gia về đọc hiểu và viết của học sinh lớp 5 do World Bank tài trợ đã cho thấy so với Chuẩn đọc được đòi hỏi trong Chương trình môn Tiếng Việt tiểu học ban hành năm 2006, học sinh tham gia khảo sát đạt tốt các kĩ năng đọc tương đương ở trình độ lớp 2 và 3 như nhắc nhớ chi tiết 1 văn bản, trả lời câu hỏi theo nội dung đoạn văn. Trong lúc đó, các em chưa thành thạo trong những kĩ năng đọc được yêu cầu trong Chuẩn của lớp 4 và 5 như tìm ra nghĩa của những từ ngữ, hình ảnh hay chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong bài đọc; rút ý chính của đoạn, trả lời các câu hỏi suy luận từ nội dung văn bản. Kết quả khảo sát đầu vào trên 226 học sinh lớp 3 trong nghiên cứu thực nghiệm “Xây dựng mô hình dạy đọc Tiếng Việt ở tiểu học theo cách tiếp cận năng lực” của chúng tôi cũng đã cho thấy một thực tế tương ứng với các kết quả nghiên cứu đã thực hiện.
Tuyệt đại đa số học sinh tham gia thực nghiệm có tốc độ đọc thông trung bình vượt gần gấp đôi chuẩn đọc quy định của Chương trình dạy đọc tiếng Việt tiểu học (đạt từ 102 đến 113 tiếng/phút so với Chuẩn tốc độ đọc 60 tiếng/phút), nhưng kĩ năng đọc hiểu nhìn chung đạt ở mức thấp, đặc biệt rất thấp ở kĩ năng tổng hợp đơn giản, suy luận, và diễn đạt thể hiện điều được đọc hiểu. Trên bình diện quốc tế, mô hình đọc kiểu workshop (reading workshop hay readers’workshop) trong đó dạy đọc có hướng dẫn (guided reading) được kết hợp với đọc mở rộng độc lập (independent reading) và đọc chia sẻ (shared reading). Mô hình dạy đọc này bắt nguồn từ các nước phát triển, hiện đang được thực hiện phổ biến trong thực tế giáo dục literacy của nhiều quốc gia trên thế giới. Nó không chỉ là mô hình giảng dạy cho học sinh đại trà mà còn là một lối giảng dạy mang tính can thiệp hay có chức năng giúp khắc phục khó khăn trong học đọc của học sinh nhỏ.
Đặc biệt, đã có nhiều chứng cứ từ thực tiễn và nghiên cứu cho thấy mô hình dạy đọc có hướng dẫn trong mô hình dạy đọc kiểu workshoplà một chiến lược dạy học hỗ trợ hữu hiệu cho những học sinh tiểu học có thể đọc trôi chảy nhưng lại thiếu yếu kĩ năng đọc hiểu [7], [83], [84], [85], [86]. Trong bối cảnh trên, với yêu cầu thực hiện hội nhập quốc tế trong tiến trình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân đã được Hội nghị lần thứ sáu khóa XI của Trung ương Đảng ngày 29 tháng 10 năm 2012, việc tham khảo có chọn lọc những kinh nghiệm quốc gia và quốc tế để làm giáo dục là điều cần thiết để giúp rút ngắn thời gian cho tiến trình cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục [56], [64]. 2 Quá trình triển khai thực hiện định hướng đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông quốc gia nói chung và Chương trình giáo dục ngữ văn sau 2015 của nước ta cũng đã được tuyên bố theo xu hướng quốc tế: tiếp cận năng lực và tích hợp. Trong bối cảnh này, việc chuẩn bị cho học sinh sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu đánh giá năng lực đọc viết theo định hướng năng lực và chuẩn quốc tế đang trở thành một yêu cầu cấp bách của bậc giáo dục phổ thông nước nhà.
Trong lúc đó, kết luận số 51-KL/TW ngày 29 tháng 10 năm 2012 của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu khóa XI đã chỉ ra những yếu kém, bất cập kéo dài trong thời gian qua làm hạn chế chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo, chưa tạo ra lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ về nhân lực của nước ta, so với các nước trong khu vực và trên thế giới, gây bức xúc trong xã hội. Ở cấp độ quốc gia, sự kiện Việt Nam gia nhập PISA (Programme for International Student Assessment - Chương trình đánh giá học sinh quốc tế) vào năm 2012 là thể hiện mạnh mẽ quyết tâm của chính phủ làm cho giáo dục nước nhà nhanh chóng hội nhập quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển năng lực đọc viết phổ thông (reading literacy), đọc viết toán (mathematical literacy) và đọc viết khoa học (science literacy) cho học sinh phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực. Theo tuyên ngôn của mình, PISA đánh giá học sinh đã được chuẩn bị tốt như thế nào cho việc học tập suốt đời. PISA không đánh giá học sinh học một chương trình hay một môn học cụ thể tốt như thế nào.
Thay vào đó, PISA đánh giá khả năng học sinh áp dụng những hiểu biết trong đọc phổ thông, trong toán và trong khoa học vào những tình huống và vấn đề thường ngày. Mục đích của việc gia nhập PISA đã được Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển nhấn mạnh là để có được cái nhìn đúng đắn về những mặt mạnh, yếu của hệ thống giáo dục trong nước và rút ra được những bài học cải tổ cần thiết.[35] Do những lí do vừa nêu trên, nghiên cứu tập trung thực hiện “Xây dựng mô hình dạy học đọc ở tiểu học theo cách tiếp cận năng lực”. Với nghiên cứu này, chúng tôi cố gắng tìm hiểu và áp dụng mô hình dạy đọc kiểu workshop vào ngữ cảnh dạy đọc tiếng Việt lớp 3 tại ba trường thuộc Thành phố Hồ Chí Minh-Việt Nam nhằm giúp giáo viên có thể tiếp cận sử dụng phương pháp dạy học đọc “mới” 3 và “khác” với phương pháp và quy trình thuộc mô hình dạy đọc hiện hành, từ đó góp phần cải tiến tình trạng học sinh có thể đọc lưu loát nhưng lại yếu kém trong đọc hiểu và ít hứng thú học đọc.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Năm 1999, Nguyễn Thị Hạnh[41] đã thực hiện môt nghiên cứu thực nghiệm kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 và lớp 5. Trên cơ sở khảo sát thực trạng đọc hiểu của học sinh chương trình hiện hành, rồi tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về dạy học đọc hiểu ở cuối cấp tiểu học, tác giả đã xây dựng một hệ thống bài tập nhằm tác động cải thiện năng lực đọc hiểu của học sinh.
Có thể nói, vào thời điểm cuối thế kỉ 20, nghiên cứu này đã chỉ ra một hướng mới trong nghiên cứu đó là học tập và vận dụng những kinh nghiệm và giá trị quốc tế tiên tiến để tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục nước nhà. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ mới dừng ở chỗ xây dựng một hệ thống bài tập rèn kĩ năng đọc hiểu, chưa đề cập đến mô hình dạy đọc với nhiều thành tố khác nhau tác động đến quá trình phát triển năng lực đọc cho học sinh. Sau nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh, nhìn lại nguồn tư liệu quốc gia trong vòng gần mười năm vừa qua, có thể nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp về các giải pháp chiến lược được vận dụng từ kinh nghiệm nước ngoài cho quá trình dạy học đọc ở tiểu học nữa. Trước thềm của công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông quốc gia sau 2015, nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục trong nước đã tập trung bàn về việc đổi mới dạy học Ngữ Văn ở trung học cơ sở và trung học phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực.
Nhìn chung, các bài viết, bài nghiên cứu này cùng tập trung khẳng định xu thế dạy học tiếng mẹ đẻ theo cách tiếp cận năng lực. Đặc biệt hơn, các bài viết đi sâu vào việc nhận diện những hạn chế của bốn thành tố của chương trình Ngữ Văn hiện hành (mục tiêu, phương pháp dạy học, nội dung và ngữ liệu dạy học và kiểm tra- đánh giá), và đề xuất hướng cải tiến các thành tố ấy theo quan điểm tiếp cận năng lực, tích hợp và giao tiếp[4],[6], [7], [14], [15], [16], [29], [30], [34], [40], [46], [47], [48], [55], [60], và[61]. 4 Ở bậc tiểu học, nổi bật có ba tác giả đề cập đến đổi mới dạy học Tiếng Việt ở bậc học này là Nguyễn Minh Thuyết (2013) [36], [37],Nguyễn Thị Hạnh (2012)[44],[45], và Hoàng Thị Tuyết (2011& 2013) [22], [23]. Các tác giả đã bước đầu phác thảo nên bản chất của các thành tố trong quá trình dạy học Tiếng Việt ở tiểu học theo cách tiếp cận năng lực, tích hợp và giao tiếp.