Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan các nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm 1. Các nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm trên thế giới Kỹ năng mềmđược quan tâm trên thế giới từ những năm 1980 đến năm 2000 và mãi đến sau này.Trong suốt quá trình lao động, các chuyên gia nhận ra rằng thực tế các kỹ năng làm việc của người lao động vẫn chưa đủ để có thể đáp ứng thực tiễn.
Người lao động chưa tự tin, uyển chuyển và linh hoạt trong quá trình làm việc. Điều mà người lao động thường thiếu đó chính là sự áp dụng mềm mại và sáng tạo những gì đã học cũng như khả năng thấu hiểu, thiết lập quan hệ với đồng nghiệp và quản lý. Vì thế, thuật ngữ kỹ năng mềm xuất hiện và vấn đề nghiên cứu về kỹ năng mềm trong nghề nghiệp cũng như phát triển kỹ năng mềm cho người lao động ở những ngành nghề cụ thể được quan tâm. Hiện nay, các nước phát triển trên thế giới hầu hết đều có các tổ chức chịu trách nhiệm về việc nghiên cứu để phát triển các kỹ năng mềm cho người lao động.
Ví dụ như: Bộ lao động Mỹ thành lập Uỷ ban thư ký về rèn luyện các kỹ năng cần thiết - The Secretary’s Comission on Achieving Necessary Skills); Tại Canada, Bộ phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng Canada - Human Resources and Skills Development Canada phụ trách về vấn đề phát triển kỹ năng cho người lao động. Ngoài ra tại nước này cũng có một tổ chức phi lợi nhuận tên là Conference Board of Canada chuyên nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế, năng lực hoạt động của các tổ chức/ chính sách công có liên quan để hỗ trợ phát triển kỹ năng mềm cho người lao động tìm việc làm; Tại Anh, năm 2009, dựa trên những Bộ, ngành cũ thì vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn, phát triển kỹ năng nghề nghiệp được 6 một tổ chức mới thành lập là Bộ Kinh tế và Phát triển chịu trách nhiệm; Ở Singapore, Cục Phát triển Lao động - Workforce Development Agency rất quan tâm đến kỹ năng nghề nghiệp trong đó vị trí của kỹ năng mềm được coi là hết sức quan trọng. Hai thập kỷ gần đây, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục (GD)kỹ năng mềm cho sinh viên (SV)/ người lao động, tập trung vào 3 hướng chính: những kỹ năng mềm cốt lõi; khung kỹ năng mềm và cách thức GD kỹ năng mềm. Hướng thứ nhất, những kỹ năng mềmcăn bản cần phải có đối với SV/ người lao động, có thể kể đến các công trình sau: Từ năm 1997, bài viết “Successful Consulting Engineering: a Lifetime of Learning” (Patricla A.Hecker) trên tạp chí GD kỹ thuật quốc tế, số 11[44] đã nghiên cứu và làm sáng tỏ về sự cần thiết và tầm quan trọng của kỹ năng mềm đối với kỹ sư cố vấn; vai trò của công tác giảng dạy, đào tạo kỹ năng mềm cho kỹ sư cố vấn; và giải pháp nâng cao việc đào tạo kỹ năng mềm cho SV khối kỹ thuật.
Năm 2002, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) kết hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Úc (The Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) dưới sự bảo trợ của Bộ GD, Đào tạo và Khoa học (The Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng GD quốc gia Úc(The Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn Employability Skills For Future. Công trình này chỉ ra 8 kỹ năng mềm quan trọng với người lao động, bao gồm: giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, sáng tạo và mạo hiểm, lập kế hoạch và tổ chức công việc, tự quản, học tập suốt đời và kỹ năng công nghệ (dẫn theo [13]). 7 Bộ Phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng của Canada (Human Resourse and Skills Development Canada – HRSDC) cũng tiến hành nghiên cứu và đưa ra danh sách kỹ năng mềm cho tương lai là: giao tiếp, giải quyết vấn đề, tư duy và hành động tích cực, thích ứng, làm việc với người khác, nghiên cứu khoa học.Cục Phát triển lao động Singapore (Workfore Development Agency - WDA) đã đưa ra 10 kỹ năng mềm: viết và tính toán, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, giải quyết vấn đề và ra quyết định, sáng tạo và mạo hiểm, giao tiếp và quản lý mối quan hệ, học tập suốt đời, tư duy mở toàn cầu, quản lý bản thân, tổ chức công việc và an toàn lao động, vệ sinh sức khỏe (dẫn theo [13]). Ở Bồ Đào Nha, năm 2007, Artur Ferreira da Silva, José Tribolet, GV trường ĐH Kỹ thuật Lisbon đã trình bày tham luận Developing soft skills in engineering studies – The experience of students’personal portfolio tại hội nghị quốc tế về GD kỹ thuật.
Trong bài viết, tác giả đã trình bày kinh nghiệm thực tế trong 15 năm (tập trung vào 6 học kỳ) đào tạo kỹ năng mềm cho SV kỹ thuật thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp và các buổi thực hành trong chương trình mang tên "Personal Portfolio"[38]. Một số cuốn sách khác đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản như: “Sự thật cứng về kỹ năng mềm” (The Hard Truth About Soft Skills) của Peggy Klaus - Dịch giả: Thanh Huyền, do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2012[23]; “Một số kỹ năng mềm về truyền thông và viết đề xuất dự án tài trợ cho Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam” (Soft Skills for Vietnamese Business Associations Communication and Project Proposal Writing) do tổ chức Eurocham & Mutrap phối hợp thực hiện năm 2011:“Kỹ năng mềm cho người đi làm - Ngôn ngữ cơ thể” của Max. Eggert được dịch thuật và phát hành bởi NXB Trẻ năm 2012[7]. Hướng thứ hai,về vấn đề khung kỹ năng mềm, một số khung của các quốc gia sau đây đã được công bố và áp dụng thành công: 8 Bang Michigan, Hoa Kỳ có Lifelong Soft Skills Framework: Creating a Workforce That Works[41].
Khung này đã chỉ ra những kỹ năng mềm căn bản SV cần phải có để đạt được thành công; Bộ Giáo dục Đại học Malaysia giới thiệuFramework of Soft Skills Infusion Based on Learning Contract Concept in Malaysia Higher Education[40]nêu rõ mục đích của GD kỹ năng mềm cho SV ĐH (ứng dụng cụ thể ở ĐH Quốc gia Malaysia) và thảo luận về phương pháp phát triển kỹ năng mềm đối với SV ĐH; Australian Core Skills Framework tập trung vào các cấp độ của 5 kỹ năng mềm: học tập, đọc, viết, giao tiếp bằng lời và kỹ năng toán học. Khung này đã cung cấp cách tiếp cận vàphân loại các yêu cầu của kỹ năng mềm đối với từng cá nhân, tổ chức, cộng đồng[17]. Hướng thứ ba,về vấn đề cách thức GD kỹ năng mềm. Có thể đơn cử một số công trình tiêu biểu như: Bài viếtTeaching Soft Skills to Engineers của Susan H.Pulko và Samir Parikh đăng trên International Journal of Electrical Engineering Education[46].
Hai tác giả đề cập đến một số phương pháp giảng dạy kỹ năng mềm cho SV khối kỹ thuật như: làm bài tập nhóm, công não, mô phỏng,… Từ lịch sử nghiên cứu kể trên chứng tỏ các nước trên thế giới rất quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng GD kỹ năng mềm cho SV. Đặc biệt, nhiều nước đã xây dựng được Khung kỹ năng mềm và áp dụng thành công - một trong những cơ sở lý luận đáng tin cậy khi chúng ta tiến hành nghiên cứu một cách hệ thống về cơ sở lý luận kỹ năng mềm cho SV đại học (ĐH) ở Việt Nam. Đồng thời, kinh nghiệm của các nước trên thế giới sẽ mang đến những bài học quý báu cho nước ta trong quá trình GD kỹ năng mềm cho SV. Các nghiên cứu về kỹ năng mềm ở Việt Nam Bộ sách 4 cuốnGiáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh các cấp từ mầm non đến trung học phổ thông (tài liệu dùng cho giáo viên) của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên) [24-27] đã nghiên cứu đặc điểm phát triển 9 tâm lý học của học của học sinh từng cấp, từ đó đưa ra những vấn đề chung của giá trị sống và phương pháp kỹ năng sống (trong đó có kỹ năng mềm) cho học sinh.
Bài viết “Tăng cường GD, rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho SV – yêu cầu cấp bách của đổi mới GD ĐH” của Bùi Loan Thủy [34]. Tác giả phân tích thực trạng sử dụng kỹ năng làm việc nhóm của SV Việt Nam, những lợi ích đối với SV khi sử dụng tốt kỹ năng này. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả làm việc nhóm đối với nhà trường, GV và bản thân SV. Bài viết “Khảo sát một vài biện pháp phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên ĐH sư phạm”của Huỳnh Văn Sơn [19]đề cập đến việc khảo sát 3 biện pháp phát triển các kỹ năng mềm cho SV ĐH sư phạm: định hướng nghiên cứu có hệ thống về kỹ năng mềm, tổ chức khóa huấn luyện về kỹ năng mềm cho SV sư phạm với tên gọi “Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên sư phạm” và lồng ghép huấn luyện kỹ năng mềm cho SV ĐH sư phạm thông qua các hoạt động ngoại khóa.
Ngoài ra, có thể kể đến các Hội thảo do các trường ĐH/ cao đẳng và Viện nghiên cứu tổ chức như:Hội thảo về kỹ năng mềm cho SV của trường Đại Mở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013;Hội thảo về kỹ năng mềm của Viện Đào tạo quốc tế - Học viện Tài chính năm 2013;… 1. Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề giáo dụckỹ năng mềm cho sinh viênsư phạm Trong những nghiên cứu về phát triển kỹ năng cho SV SP, dễ nhận thấy những đề tài/ tài liệu/ bài báo nghiên cứu tập trung vào các kỹ năng cơ bản của nghiệp vụ sư phạm: nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp sư phạm, kỹ năng làm công tác chủ nhiệm, kỹ năng soạn giáo án - thiết kế bài giảng, kỹ năng đánh giá lớp học - học sinh. Tiêu biểu như: 10 - Đề tài: “Xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm cơ bản cho sinh viên cao đẳng sư phạm nhằm góp phần hình thành năng lực sư phạm và đáp ứng có hiệu quả yêu cầu yêu cầu giảng dạy theo chương trình và sách giáo khoa mới trường trung học cơ sở” (2006) của tác giả Nguyễn Văn Huyên và Nguyễn Nhã tại Sở khoa học và công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh[17].