CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC.1 Năng lực giao tiếp 1. Một số khái niệm cơ bản a) Khái niệm năng lực Năng lực là một phạm trù đã và đang được bàn luận trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Năng lực có nhiều định nghĩa khác nhau. Từ điển Giáo dục học [2; tr.
278] cho rằng: "Năng lực là khả năng hình thành hoặc phát triển giúp một người đạt được thành công trong hoạt động thể chất, trí tuệ hoặc nghề nghiệp. Năng lực là biểu hiện của khả năng thực hiện một hoạt động, thực hiện một công việc”. Từ điển năng lực của Đại học Harvard giải thích “năng lực là thứ mà mỗi người phải chứng minh nó có vai trò quan trọng trong công việc, giữ một chức năng và nhiệm vụ giúp con người thực hiện các hoạt động”. Theo Từ điển Tâm lý học, năng lực là tập hợp các đặc điểm, phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò thúc đẩy thực hiện tốt các hoạt động bên trong của con người.
Theo từ điển này, năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý đơn lẻ (như khả năng tri giác, trí nhớ, v.) mà là tổng hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân và là một thể thống nhất đáp ứng yêu cầu hoạt động và đảm bảo cho các hoạt động đạt kết quả mong muốn. CT GDPT 2018 [1] cũng chỉ rõ năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển do những phẩm chất bên trong, do quá trình học tập, rèn luyện nhằm giúp thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định để đạt được kết quả mong muốn trong các điều kiện cụ thể. Như vậy, trong luận văn này chúng tôi hiểu: Năng lực là những đặc điểm của một người để đánh giá về kiến thức, kỹ năng, thái độ,. khi thực 14 hiện một nhiệm vụ.
Năng lực là yếu tố giúp các cá nhân làm việc hiệu quả và là một trong những thước đo đánh giá giữa các cá nhân với nhau. Năng lực của HS là một cấu trúc năng động, có tính mở, bao gồm nhiều thành tố như kiến thức, kỹ năng, niềm tin, giá trị sống và trách nhiệm xã hội. Nó được thể hiện thông qua hành động của HS trong môi trường học tập và khả năng thích nghi với điều kiện thay đổi của môi trường xã hội xung quanh. b) Khái niệm giao tiếp, năng lực giao tiếp Giao tiếp là điều kiện cần thiết và không thể thiếu của cuộc sống con người.
Thông qua giao tiếp, mối quan hệ xã hội của con người được nâng cao và giúp họ tiếp thu văn hóa của nhân loại và biến nó thành văn hóa của mình. Nhờ quá trình giao tiếp con người có những nhận thức đúng đắn từ đó có những điều chỉnh với chính bản thân mình để thích ứng với các chuẩn mực xã hội. Vì vậy, giao tiếp không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với đời sống con người mà còn có ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội. Có thể hiểu một cách khái quát, giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, trao đổi của mọi người trong xã hội nhằm truyền thụ những tư tưởng hoặc bày tỏ, chia sẻ tình cảm, thái độ với nhau.
Con người có thể giao tiếp bằng nhiều cách như sử dụng ánh mắt, cử chỉ, âm thanh, hình ảnh, kí hiệu,…. Sử dụng ngôn ngữ là cách giao tiếp phổ biến nhất giúp quá trình giao tiếp được diễn ra một cách có hiệu quả. Giao tiếp bằng ngôn ngữ là việc con người giao tiếp, trao đổi những thông tin nhất định với nhau, dùng ngôn ngữ để bày tỏ, chia sẻ những cảm xúc vui buồn của mình đối với mọi người xung quanh. Vì vậy, có thể nói giao tiếp là một hoạt động xã hội của con người.
Nó là một phần vô cùng quan trọng giúp con người thiết lập và quản lý các mối quan hệ xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định. 15 Giao tiếp của HS tiểu học là quá trình tiếp xúc của HS với gia đình, nhà trường và xã hội nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm giữa HS với những người xung quanh. [11] Khái niệm năng lực giao tiếp xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1970, khi nhà ngôn ngữ học Hymes phân biệt hai loại năng lực: "năng lực ngữ pháp" và "năng lực sử dụng". Theo ông, "năng lực sử dụng" là khả năng sử dụng "năng lực ngữ pháp" để đảm bảo rằng cách nói phù hợp với một tình huống cụ thể.
Từ đó, khái niệm “năng lực giao tiếp” ra đời, đề cập đến việc sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả trong các tình huống cụ thể của xã hội. Abbou, năng lực giao tiếp được xem xét về mặt xã hội là chủ yếu chứ không chỉ dựa vào ngôn ngữ. Đối với ông, năng lực giao tiếp của một người là "tổng hợp các năng lực vốn có và khả năng của hệ thống điều hành để tiếp nhận và giải thích các tín hiệu xã hội theo một tập hợp các hướng dẫn và quy trình đã thiết lập". Từ quan điểm ngôn ngữ học của mình, Beautier – Casting cho rằng, năng lực giao tiếp là "khả năng vốn có của người nói để hiểu và phản ứng một cách thích hợp trước các tình huống giao tiếp bằng ngôn ngữ, có hoặc không có ngôn ngữ.
Hiểu ở đây không chỉ có nghĩa là xét về mặt quy chiếu, ngữ nghĩa, và hình thức nội dung thông báo mà còn là một hành vi, hoạt động tại lời có chủ đích” (Beautier-Casting, 1983). Mặc dù các khái niệm trên có các cách hiểu khác nhau nhưng nhìn chung, năng lực bao gồm các thành phần: kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ,… liên quan đến hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể. Năng lực giao tiếp là khả năng trình bày và diễn đạt những suy nghĩ, quan điểm, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc của mình với người khác dưới hình thức nói, viết hoặc ngôn ngữ cơ thể. Năng lực giao tiếp làm cho quá trình tương tác với các cá nhân và với các nhóm hiệu quả hơn.
Nó giúp các cá nhân bộc lộ suy nghĩ, tình cảm và cảm xúc của mình với người khác. 16 Giúp mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội có sự đồng cảm và thấu hiểu lẫn nhau. Qua các khái niệm trên, ta có thể hiểu phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học là quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm giúp người học hình thành và rèn luyện các thao tác hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lý thông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong các mối quan hệ của học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội. Biểu hiện của năng lực giao tiếp Dựa theo định nghĩa về năng lực giao tiếp, biểu hiện năng lực giao tiếp được chia theo các cấp độ như sau [8]: Cấp độ 5 - Mức độ xuất sắc: Ở cấp độ này, các cá nhân tự tin truyền đạt kỹ năng ngay cả trong những tình huống đặc biệt khó khăn với người khác.
Tự tin trình bày các vấn đề phức tạp và nhạy cảm trước mọi đối tượng (từ lãnh đạo cấp cao, đồng nghiệp hay đối tượng yếu thế hơn). Luôn tạo ấn tượng rằng bạn là người biết lắng nghe và sẵn sàng đón nhận phản hồi từ người khác. Ngôn ngữ, giọng điệu uyển chuyển, có sức thuyết phục, có sức ảnh hưởng có chiến lược truyền thông rõ ràng. Cấp độ 4 - Mức độ tốt: Ở cấp độ này, các cá nhân có thể sử dụng các khả năng trong các tình huống khá khó khăn mà không cần hướng dẫn.
Khả năng trình bày rõ ràng các khái niệm phức tạp cho nhiều đối tượng. Khéo léo xử lý các tình huống phát sinh trong giao tiếp, sử dụng linh hoạt ngôn ngữ, giọng điệu. Nắm rõ những gì mình cần truyền đạt đến người nghe. Biết lắng nghe và thường xuyên tiếp thu ý kiến đóng góp của người khác.
Cấp độ 3 - Mức độ khá 17 Ở cấp độ này, cá nhân có thể sử dụng năng lực của mình trong những tình huống khó khăn, mặc dù đôi khi vẫn cần sự hướng dẫn, giúp đỡ của người khác. Khả năng diễn đạt nội dung thiết yếu một cách rõ ràng và rành mạch cho nhiều đối tượng khác nhau. Sử dụng đúng giọng điệu và ngôn ngữ thường xuyên trong các tình huống giao tiếp. Thường xuyên lắng nghe, quan tâm nhau, biết khơi gợi một cách tinh tế sự giao tiếp hai chiều.
Cấp độ 2 - Mức độ cơ bản Ở cấp độ này, cá nhân có thể thực hiện các khả năng trong những tình huống khó khăn vừa phải và vẫn cần sự hỗ trợ và hướng dẫn của người khác. Có thể diễn đạt rõ ràng với nhiều đối tượng nhưng ngôn ngữ và giọng điệu thường thiếu chính xác. Có ý thức gợi ra giao tiếp hai chiều, ngay cả khi đôi khi không khéo léo lắm. Tích cực lắng nghe và quan tâm đến nhau.
Cấp độ 1 - Mức độ kém Ở cấp độ này, cá nhân chỉ có thể sử dụng các khả năng ở mức cơ bản nhất và cần rất nhiều hướng dẫn từ người khác. Có thể diễn đạt bản thân, nhưng không phải lúc nào cũng mạch lạc và chính xác. Tích cực lắng nghe nhưng không biết cách khơi gợi phản hồi từ đối tác. Vai trò của việc phát triển năng lực giao tiếp đối với học sinh lớp 5 Việc PTNLGT của HS có vai trò hết sức quan trọng trong dạy học Khoa học.
Bằng cách học các môn học ở trường, HS có được kiến thức đúng đắn của các môn học đó. Tuy nhiên, nếu HS có kiến thức nhưng không thể giao tiếp với bạn bè xung quanh thì sẽ trở nên cô lập, bơ vơ thì không thể nào thành công được. Việc chia sẻ kiến thức với nhau, giúp mỗi thành viên hoàn thành các 18 nhiệm vụ học tập mà bản thân các bạn đó không thể hoàn thành được làm cho mối quan hệ bạn bè được gắn kết và trở nên bền chặt giúp HS hiểu sâu hơn vấn đề, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng giải quyết các công việc liên quan nhanh hơn. Trong quá trình giao tiếp và hợp tác giữa các HS có thể nảy sinh những mâu thuẫn, đó là điều tất yếu và hiển nhiên.
Vì vậy, mỗi thành viên phải học cách nắm bắt thông tin một cách hợp lý, biết đặt câu hỏi, phản biện, tranh luận và chấp nhận quan điểm cá nhân để tìm ra câu trả lời cuối cùng. Bởi vậy có thể nói giao tiếp góp phần vào sự thành công trong học tập.