Nghiên cứu mật độ xương ở phụ nữ miền Bắc Việt Nam bằng phương pháp DEXA

Nghiên cứu mật độ xương theo nhóm tuổi ở phụ nữ miền Bắc Việt Nam bằng phương pháp DEXA máy Hologic, cung cấp thông tin quan trọng về sức khỏe xương.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

2023

71
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược cấu trúc và chức năng của xương

1.2. Sơ lược về sự tái tạo xương

1.2.1. Sự tái tạo xương

1.3. Những thông số sinh hoá phản ánh quá trình tái tạo của xương

1.3.1. Những thông số sinh hoá phản ánh quá trình tạo xương

1.3.2. Những thông số phản ảnh quá trình huỷ xương

1.4. Các yếu tố tham gia điều hòa tái tạo xương

1.4.1. Các hormon

1.4.2. Các yếu tố điều hòa tại chỗ

1.5. Khái niệm loãng xương và các yếu tố nguy cơ gây loãng xương

1.5.1. Định nghĩa loãng xương

1.5.2. Phân loại loãng xương

1.5.2.1. Loãng xương nguyên phát
1.5.2.2. Loãng xương thứ phát

1.5.3. Những yếu tố nguy cơ gây loãng xương

1.5.3.1. Khối lượng xương đỉnh
1.5.3.2. Sự mất xương trong quá trình lão hóa
1.5.3.3. Những yếu tố nguy cơ gây loãng xương

Tài liệu "Nghiên cứu mật độ xương ở phụ nữ miền Bắc Việt Nam: Phương pháp DEXA" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng mật độ xương của phụ nữ trong khu vực này, sử dụng phương pháp DEXA để đo lường và phân tích. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định mức độ loãng xương mà còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe xương của phụ nữ, từ đó đưa ra những khuyến nghị về chế độ dinh dưỡng và lối sống nhằm cải thiện sức khỏe xương.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến loãng xương, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính đa hình của một số gen liên quan đến gãy xương đốt sống do loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh, nơi nghiên cứu về các yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến tình trạng loãng xương. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu mô hình bệnh loãng xương trên cá medaka sẽ cung cấp cái nhìn về các mô hình nghiên cứu bệnh loãng xương và các phương pháp điều trị tiềm năng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị các bướu xương và tổn thương dạng bướu đầu gần xương đùi, giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe xương và các phương pháp điều trị hiện có.

Mỗi tài liệu này là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của sức khỏe xương, từ nguyên nhân đến điều trị, và cải thiện kiến thức của mình trong lĩnh vực này.

Trích đoạn nội dung tài liệu

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Dân số thế giới đang lão hóa đặc biệt ở các nước phát triển và đang phát triển. Trong khi đó, loãng xương là một bệnh thường xảy ra ở người cao tuổi. Vì thế, loãng xương là một vấn đề đang được thế giới quan tâm. Tần suất các bệnh cơ xương khớp tăng lên cùng với tuổi trong đó loãng xương là một trong những bệnh thường gặp nhất ở tuổi > 50. Nhiều nghiên cứu cho thấy ở phụ nữ từ 60 tuổi trở lên có khoảng 20% mắc chứng loãng xương, ở nam cùng tuổi khoảng 10%. Ở Việt Nam, một nghiên cứu dịch tễ cho thấy khoảng 20% phụ nữ trên 60 tuổi có triệu chứng loãng xương.[11] Hậu quả nghiêm trọng nhất của loãng xương là gãy xương. Gãy xương do loãng xương hiện nay được coi như vấn đề chính của sức khỏe cộng đồng, nó ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cũng như nền kinh tế của nhiều nước.Ở Mỹ hàng năm có 1,5 triệu trường hợp gãy xương do loãng xương[50]. Dự báo trên thế giới tần suất gãy xương do loãng xương vẫn gia tăng hàng năm, con số này ước tính lên đến 6,3 triệu người vào năm 2050 so với 1,7 triệu năm 1990. Nguy cơ gãy xương ở phụ nữ da trắng từ 50 tuổi trở lên là 40% trong khi đó chỉ có 9% phụ nữ có nguy cơ bị ung thư vú. Hàng năm hệ thống chăm sóc sức khoẻ ở Mỹ phải chi phí cho điều trị loãng xương ít nhất là 40 tỷ đô la còn ở Pháp là 3-4 tỷ francs ,chi phí cho gãy xương do loãng xương ở Mỹ là 14 tỉ đô la [46] . Các triệu chứng của loãng xương thường biểu hiện âm thầm, chỉ khi trọng lượng xương mất đi 30 – 40% mới có biều hiện trên lâm sàng như: đau dọc các xương dài, đau cột sống, gù vẹo cột sống, gãy xương.trong nhiều trường hợp bệnh không có biểu hiện triệu chứng do đó người mắc bệnh không biết cho đến khi bị gãy xương. Vì vậy cần có phương pháp chẩn đoán sớm loãng xương để phòng ngừa gãy xương. Hiện nay, có nhiều phương pháp 2 chẩn đoán bệnh loãng xương trong đó phương pháp đo tỷ trọng khoáng bằng hấp thụ tia X năng lượng kép được cho là phương pháp có độ chính xác cao . Đây là phương pháp đo mật độ chất khoáng trong xương ( BMD ) ở cẳng tay, cổ xương đùi, cột sống thắt lưng (CSTL).Mật độ xương là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất ,nó được coi là yếu tố khẳng định chính của nguy cơ gãy xương [17]. Mật độ xương thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.Đo mật độ xương mới được thực hiện ở Việt Nam mấy năm gần đây nhưng kết quả đều dựa trên sự so sánh với chỉ số của người Châu Á. Tuy nhiên ,người Việt Nam có chỉ số nhân trắc ,điều kiện sống và điều kiện dinh dưỡng khác biệt với các quốc gia Châu Á. Do đó , Việt nam cần có những nghiên cứu về chỉ số mật độ xương của người Việt nam bình thường. Đặc biệt , phụ nữ có tỉ lệ loãng xương cao hơn nam giới với tiền sử kinh nguyệt và sinh đẻ phức tạp nên việc nghiên cứu mật độ xương ở phụ nữ cần được quan tâm .Điều quan trọng là phải xác định được mật độ xương ở người phụ nữ bình thường theo các lứa tuổi để từ đó có cơ sở chẩn đoán và theo dõi loãng xương ở phụ nữ Việt Nam.Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “ Nghiên cứu mật độ xương theo nhóm tuổi ở phụ nữ miền Bắc Việt Nam bằng phương pháp DEXA (máy Hologic)”. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1. Xác định mật độ xương đỉnh ở CSTL và cổ xương đùi của phụ nữ miền Bắc Việt Nam bằng phương pháp DEXA (Máy Hologic) 2. Đánh giá mật độ xương CSTL và cổ xương đùi ở phụ nữ miền Bắc Việt Nam theo các nhóm tuổi bằng phương pháp DEXA (Máy Hologic) theo mật độ xương đỉnh ở mục tiêu 1. Nhận xét một số yêú tố ảnh hưởng đến mật độ xương theo các nhóm tuổi ở phụ nữ. 3 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược cấu trúc và chức năng của xương [5,9,12] 1. Chức năng của xương: Xương là một mô liên kết cùng với sụn tạo nên hệ xương có 3 chức năng chính : - Chức năng cơ học :hỗ trợ và là chỗ bám của của các cơ để vận động. - Chức năng chuyển hóa : bao gồm việc cung cấp một kho hằng định nội môi chứa chất khoáng , chủ yếu calci ,nhưng cũng có một số chất khoáng quan trọng khác như magnesi và phospho -Chức năng bảo vệ các tạng và tủy sống. Cấu trúc xương: Cũng như mô liên kết khác, mô xương có 2 thành phần cơ bản là :tế bào xương và chất khuôn xương. - Chất khuôn xương bao gồm các sợi collagen và các mô liên kết khác giàu chất glucoaminoglycin,khuôn xương có thể trở thành calci hóa.Mô xương có xương đặc (xương vỏ ) và xương xốp (bè xương);80%-90% khối lượng xương đặc được calci hóa ; 15-25% khối lượng xương xốp có chức năng chuyển hóa .Xương đặc có chức năng bảo vệ còn xương xốp có chức năng chuyển hóa. - Các tế bào xương bao gồm :hủy cốt bào(Osteoblast) là các tế bào khổng lồ đa nhân,có nhiệm vụ tiêu xương .Tạo cốt bào (Osteoclast) là tế bào 4 có nhân hình thoi, có nhiệm vụ sản sinh ra các thành phần của nền xương (các sợi collagen và các chất nền),có vai trò quan trọng trong quá trình calci hóa.Cốt bào (Osteocyte) giữ vai trò quan trọng trong sự trao đổi calci giữa xương và dịch ngoại bào do tiết ra osteocalcin. Sơ lược về sự tái tạo xương [5,9,12] 1. Sự tái tạo xương Một chu kỳ tái tạo xương bắt đầu bằng sự huỷ xương do vai trò của huỷ cốt bào, tiếp theo là giai đoạn chuyển đổi với sự kết thúc quá trình huỷ xương và bắt đầu quá trình tạo xương. Trong giai đoạn chuyển đổi các hốc xương tạo ra trong quá trình huỷ xương được lót bởi các tế bào đơn nhân. Trong quá trình tạo xương các tế bào đơn nhân được thay thế bởi các tế bào nguồn gốc xương , các tế bào này sau đó được biệt hoá thành tạo cốt bào để tổng hợp nên chất căn bản chứa calci lắng đọng, các hốc được làm đầy dần với xương mới. Khi các hốc đầy, tạo cốt bào trở thành những tế bào lát phẳng trong khi chất cơ bản không calci hoá thu hẹp lại, thậm chí biến mất. Để hoàn thành quá trình tái tạo xương, cần vài tháng [14,49]. Nhờ quá trình tái tạo xương mà mô xương liên tục được thay thế để duy trì khối lượng, hình dáng và sự toàn vẹn của xương. Tuy nhiên để quá trình tái tạo xương được hoàn thiện đòi hỏi phải có sự cân bằng giữa quá trình huỷ xương và tạo xương. Tạo xương được phân biệt với đổi mới xương .Đổi mới xương là quá trình mô xương liên tục tiêu và thay thế để duy trì khối lượng ,hình dáng và sự toàn vẹn của xương.Quá trình chuyển hóa xương không bao giờ dừng,liên tục đổi mới thậm chí sau khi xương đã đạt được hình dạng và kích thước trưởng thành , xương cũ liên tục bị phá hủy và xương mới được tạo ra để thay thế. 5 Quá trình hủy xương và tạo xương được điều hòa bởi các hormon và cytokin. Trong bộ xương của người trưởng thành , có gần 5-10% của xương được thay thế hàng năm .Điểm đặc trưng của quá trình đổi mới xương là không xảy ra đồng bộ suốt bộ xương .Đổi mới xương xảy ra ở các đơn vị đổi mới xương ( Bone Multicellular Unit -BMU) hoặc các đơn vị đa tế bào cơ sở của chuyển đổi xương. Thời gian để thực hiện một chu kỳ tái tạo xương khoảng 3 đến 5 tháng. Những thông số sinh hoá phản ánh quá trình tái tạo của xương [49]: * Những thông số sinh hoá phản ánh quá trình tạo xương: - Osteocalcin: Là một protein có 49 acid amin, phân tử lượng là 5800. Nó là một protein đặc hiệu của xương được tổng hợp từ tạo cốt bào và nguyên bào xương. Nồng độ osteocalcin liên quan đến tốc độ tạo xương và sự khoáng hoá. Định lượng osteocalcin là một xét nghiệm sinh hoá đặc hiệu trong chẩn đoán loãng xương. Nồng độ osteocalcin tăng trong loãng xương, có giá trị đánh giá sự mất xương chậm và theo dõi dài hạn quá trình điều trị loãng xương. - Phosphatase kiềm của xương: Là một enzym ở tại màng tạo cốt bào. Hoạt tính của phosphatase kiềm trong huyết thanh được dùng để đánh giá sự tạo xương nhưng độ nhậy và độ đặc hiệu không cao. Ở những người loãng xương phosphatase kiềm có thể bình thường hoặc hơi tăng. - Các tiền peptid có tận cùng -COOH và các tiền peptid tận cùng-NH2 của procollagen I là sản phẩm được phóng thích ra khi tạo cốt bào tiết ra collagen. * Những thông số phản ảnh quá trình huỷ xương: - Calci niệu: Tỉ lệ canxi/creatinin niệu khi đói tăng nghĩa là sự huỷ xương tăng. Phương pháp này độ nhậy không cao. 6 - Hydroxyprolin niệu (OHP): Nồng độ OHP niệu khi đói phản ảnh sự phân huỷ collagen của xương.Tỉ lệ OHP/ creatinin niệu khi đói được sử dụng để đánh giá sự huỷ xương. - Pyridinoline (Pyr) và Desoxypyridinoline (D-pyr ): Hai sản phẩm này được phóng thích ra từ quá trình huỷ xương bởi các huỷ cốt bào. - Phosphatase acid kháng Tartrate (TRAP): Là sản phẩm của huỷ cốt bào. Các yếu tố tham gia điều hòa tái tạo xương [5,9,12]: 1.Các hormon: - Parathyroid hormon ( PTH ): là hormon tuyến cận giáp với bản chất là polypeptit, trọng lượng phân tử là 9500 dalton. Hormon này kích thích tăng huỷ xương do làm hoạt hoá và tăng tạo huỷ cốt bào và ức chế hoạt hoá của tạo cốt bào. PTH cũng làm tăng calci máu bằng cách tăng tái hấp thu calci ở thận và ruột. - Calcitonin: là hormon của tuyến giáp do tế bào cạnh nang tuyến tiết ra, bản chất là một polypeptit gồm 32 axit amin có trọng lượng phân tử là 3000 dalton. Ngược với tác dụng của PTH, calcitonin có tác dụng ức chế sự huỷ xương, làm giảm calci máu nhưng không làm biến đổi sự tái tạo xương. - Insulin: là một polypeptit có trọng lượng phân tử là 6000 dalton. Được tổng hợp từ tế bào  của tuỵ tạng. Isulin điều chỉnh sự huỷ xương và có kích thích rõ rệt lên sự tổng hợp chất nền của xương nên nó rất cần thiết cho sự calci hoá bình thường của xương. Ở những bệnh nhân tiểu đường phụ thuộc insulin sự tăng trưởng và calci hoá của xương bị giảm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ