Chương 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái 1. Những nghiên cứu về đạo đức sinh thái Dựa trên phân tích tài liệu sách, giáo trình, nguồn thông tin trên internet bao gồm cả tài liệu gốc và tài liệu đã được dịch, tác giả luận án nhận thấy có rất nhiều nghiên cứu về ĐĐST.
Với sự ra đời của cuốn sách Mùa xuân im lặng (1962) của Rachel Carson và các nghiên cứu của bà về tác động có hại của hoạt động nông nghiệp mang tính thương mại đối với các hệ sinh thái đã mở ra nhiều cuộc tranh luận về đạo đức đối với tự nhiên. Về khái niệm ĐĐST, các nghiên cứu tiếp cận ĐĐST trên cơ sở “xem xét kỹ lưỡng mối quan hệ giữa con người và môi trường sinh thái[16] và xử lý các giá trị trong mối quan hệ này” [17]. ĐĐST gợi ý cho mọi người về hành vi môi trường nào là tốt và hành vi nào là xấu, áp dụng những hành vi tốt và tránh những hành vi xấu, đặt ra giới hạn về hành vi đối với MT. ĐĐST quan tâm đến “sự hài hòa giữa con người và tự nhiên” dựa trên các giá trị, quy tắc cũng như trách nhiệm đối với MT qua các câu hỏi bắt đầu bằng cái gì và ai đối với tự nhiên [18].
Yang cho rằng ĐĐST là một phân ngành triết học liên học đến khía cạnh đạo đức xung quanh việc bảo vệ môi trường, là sự mở rộng đầy đủ nhất của con người, kêu gọi chúng tay suy nghĩ và hành động ở địa phương cũng như trên toàn cầu [17]. Điều này đòi hỏi một ý thức đạo đức mới, sâu sắc hơn. ĐĐST nhằm mục đích cung cấp sự biện minh về mặt đạo đức và động lực cho sự nghiệp BVMT toàn cầu [17]. Robin Attfield trong bài viết ĐĐMT và sự bền vững toàn cầu đã cho rằng ĐĐMT bàn về “các nguyên tắc chuẩn mực liên quan đến tương tác của con người với môi trường tự nhiên”[19].
Theo Stapp&Cox “ĐĐMT là hệ thống các giá trị (hành vi, ứng xử, sự tôn trọng…) mà mọi người thể hiện trong mối quan hệ với nhau và với thiên nhiên”[20] .Tương tự như vậy, Anastasia Nasybulina cũng đồng 7 nhất quan điểm và cho rằng “mục tiêu ĐĐST là hình thành hệ thống giá trị và thái độ chuẩn mực của xã hội trong hài hòa giữa con người và thiên nhiên”[21]. Robin Attfield đưa ra hai câu hỏi cơ bản: Con người có những nghĩa vụ gì đối với môi trường và tại sao? [22] , cho rằng đó là trọng tâm của ĐĐST. Không dừng lại ở đó, Halfife đã mở rộng câu hỏi và cho rằng, ĐĐST trả lời cho câu hỏi: Con người có nghĩa vụ gì với hế giới tự nhiên? Các lợi ích và chi phí cho việc tuân thủ các nghĩa vụ được phân bổ như thế nào?[18].Kronlid và Ohman cũng đã đề xuất khung ĐĐMT được xây dựng thành hai phần nhằm phản ánh sự phát triển của ĐĐMT từ những năm 1970 đến nay là ĐĐMT định hướng giá trị và ĐĐMT định hướng quan hệ [23]. Một số nghiên cứu ở Việt nam đồng nhất khái niệm ĐĐST và ĐĐMT.
Nguyễn Văn Phúc [24] [25], Hồ Sĩ Quý (2005) [26] và Vũ Dũng (2011) cho rằng “ĐĐMT là tổng thể các quy tắc, nguyên tắc cùng chuẩn mực giúp cá nhân tự giác điều chỉnh hành vi của mình đối với môi trường. Khái niệm này nhấn mạnh sự tương thích giữa hành vi con người với lợi ích và hạnh phúc của cộng đồng, đóng góp vào sự PTBV của xã hội. Ngoài ra, ĐĐMT còn thể hiện sự tôn trọng của con người đối với tự nhiên, phản ánh sự hài hòa trong mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái”[27]. Phạm Thị Ngọc Trầm [28], Trịnh Thị Hạnh khẳng định “thực chất của ĐĐST là sự điều chỉnh một cách hợp lý, hài hòa các quan hệ lợi ích giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên trong quá trình khai thác và bảo vệ môi trường vì sự PTBV”[29].
Trần Lê Bảo trong bài viết của mình cho rằng ĐĐMT còn được gọi là ĐĐST [30]. Về ý nghĩa ĐĐST, các nghiên cứu hầu hết đều cho rằng trước yêu cầu cấp bách về cân bằng sinh thái lâu dài, ĐĐST được cho là con đường hữu hiệu cho các vấn đề môi trường [31] [32]. Dan Perry và cộng sự đã làm rõ hơn luận điểm của Rolston[31]. Ông lập luận cho rằng việc giải quyết sự cần thiết của ĐĐST thông qua việc khám phá lý do tại sao các phương pháp tiếp cận triết học hiện đại đối với ĐĐST và động vật là không giải quyết được đầy đủ các tình huống khó xử về đạo đức, đặc biệt trong việc giải quyết xung đột giữa các giá trị cạnh tranh như môi trường, nhận thức và đời sống động vật.
Ông đã dựa trên nền tảng lý 8 thuyết và những lời phê bình của Minteer & Collins và cho rằng các lý thuyết đạo đức hiện tại không xem xét tất cả các giá trị cạnh tranh liên quan đến việc ra quyết định môi trường. Chính vì vậy, ĐĐST được đề xuất như một lĩnh vực mới thừa nhận những xung đột này và tìm cách cung cấp một cách tiếp cận đạo đức toàn diện hơn. Các nghiên cứu cũng đi tình hình MT hiện nay để lập luận cho mối quan hệ giữa ĐĐST và tính bền vững [33][34][35]. Eva Pechočiaková Svitačová với nghiên cứu Đi tìm giải pháp cho khủng hoảng môi trường và sinh thái với đạo đức mới đã “chứng minh trong thời đại hiện nay cần có một ĐĐST để giải quyết các vấn đề môi trường” [34].
Mark cũng xuất phát từ quan điểm cho rằng khoảng cách giữa kiến thức và hành động “đó là những gì yêu cầu về mặt đạo đức đối với con người” [35] [36]. Aliyu Saliu Barau cùng cộng sự trong nghiên cứu “ĐĐST và sự chuyển đổi theo định hướng tương lai sang tính bền vững ở Châu Phi cận Sahara nhấn mạnh “tầm quan trọng của ĐĐST như một phương tiện để thu hút xã hội, doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách tới việc lồng ghép chuyển đổi sang tính bền vững” [37]. Ngược lại, một số nghiên cứu đi từ khảo sát khoảng trống giữa kiến thức và hành động vì môi trường để khẳng định cần thiết phải xây dựng ĐĐST. Choy Yee Keong nghiên cứu thực nghiệm đối với người dân ở bang Borneo của Sarawak, Malaysia để đánh giá mức độ hình thành tư duy đạo đức truyền thống có thể giúp thúc đẩy BVMT.
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định ĐĐST như một động lực thúc đẩy, củng cố sự gắn kết đạo đức con người với thiên nhiên khi tối ưu hóa lợi ích kinh tế khi sử dụng môi trường [38]. Kết luận này cũng được một số tác giả của Việt Nam phân tích. Như tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm [39], Nguyễn Đức Khiển [5]. Về chuẩn mực ĐĐST, một số nghiên cứu đề xuất thang đo chuẩn mực ĐĐST, yếu tố ảnh hưởng tới hành vi ĐĐST như: thang đo NEP của Dunlap và Van Liere; mô hình hành vi môi trường có trách nhiệm của Hines, Hungerford và Tomera với các tiêu chí đánh giá hành vi ĐĐST.
Anja Kollmuss và Julina Agyeman trong khi tìm đáp án để trả lời: “Tại sao mọi người hành động vì môi trường và những rào cản đối với hành vi ủng hộ môi trường là gì?” đã “phân tích từ mô hình tuyến tính, mô hình lòng vị tha, đồng cảm và các mô hình hành vi xã hội, mô hình xã 9 hội học đã đề xuất mô hình ứng xử thân thiện với môi trường của mình và nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hành vi ĐĐST chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: yếu tố nhân khẩu học, yếu tố bên ngoài (thể chế, kinh tế xã hội và văn hóa), yếu tố bên trong (động lực, kiến thức, giá trị, thái độ, cảm xúc, ý định hành vi) đều tác động tới hành vi ĐĐST của một cá nhân” [40]. Về nguyên tắc ĐĐST, mặc dù có nhiều tranh luận về nền tảng triết học của ĐĐST, nhưng các nghiên cứu được tác giả luận án khảo cứu cho thấy nhiều sự đồng thuận về nguyên tắc chuẩn mực của ĐĐST và nguyên tắc thực hiện ĐĐST. Yang đã chỉ ra ba nguyên tắc chuẩn mực của ĐĐST đó là: nguyên tắc công lý môi trường, nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ và nguyên tắc tôn trọng tự nhiên [17]. UNESCO trong bản dự thảo “The teaching of environmental Ethics” cũng đề xuất bốn nguyên tắc ĐĐMT [41].
Quan điểm của UNESCO là hoàn toàn phù hợp với Chiến lược cho cuộc sống bền vững cũng như Tuyên bố Seoul về ĐĐMT vào ngày 4/6/1997 tại Seoul, Hàn quốc. Bên cạnh đó, các vấn đề thực tiễn của ĐĐST nhận được sự đồng thuận lớn hơn các vấn đề triết học ĐĐST. Đa phần đều cho rằng các vấn đề thực tiễn về ĐĐST là: khủng hoảng sinh thái là bệnh lý của nền văn minh công nghiệp; Trái đất là tài sản chung của mọi người; nghèo đói là ô nhiễm; chủ nghĩa quân phiệt là mối đe dọa cho sự sống; công lý môi trường là vấn đề ưu tiên của ĐĐST; ĐĐST nên tham gia tích cực vào việc ra quyết định môi trường [17] [41] [24]. Trên cơ sở này, Yang trong các bài viết của mình cũng đã chỉ ra đặc điểm và những yêu cầu của ĐĐST [17].
Ở Việt Nam, các nghiên cứu cũng đưa ra các yêu cầu của ĐĐST trong bối cảnh của đất nước. Vũ Dũng (2011) [42] đề cập các chuẩn mực cơ bản mà con người cần có. Hoàng Thị Thanh cũng đưa ra các chuẩn mực ĐĐMT trong giai đoạn CNH-HĐH của nước ta. Dương Quang Ngọc [44]cũng xác định những giá trị ĐĐMT cho học sinh.
Lê Văn Khoa cũng cho rằng trong thời đại ngày nay con người cần thay đổi nhận thức và tư duy về ĐĐST, chuyển từ nhận thức cũ – Thuyết chế ngự thiên nhiên sang nhận thức mới – thuyết Gaia để xây dựng ĐĐMT trong mọi lĩnh vực [45]. Có thể nói, những nghiên cứu về ĐĐST làm rõ thực chất những chuẩn mực ĐĐST, những giải pháp cơ bản xây dựng ĐĐST dành cho mỗi quốc gia cũng như 10 mỗi cá nhân. Những nghiên cứu về giáo dục đạo đức sinh thái Đầu tiên, chúng ta phải thừa nhận rằng mặc dù một số bài viết, nghiên cứu đưa ra những lập luận có cả ủng hộ và chưa đồng thuận về GDĐĐST tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng trước yêu cầu cấp bách về cân bằng sinh thái lâu dài, ĐĐST là phương pháp giải quyết cho những vấn đề môi trường sinh thái.