ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh lý xương khớp là vấn đề rất đáng quan tâm ở những phụ nữ mãn kinh, thường đứng thứ 2 sau bệnh lý tim mạch. Loãng xương và thoái hóa khớp là biểu hiện hay thường gặp nhất ở lứa tuổi 50 trở lên. Vào những năm đầu của thế kỷ 21, theo báo cáo của Hiệp hội loãng xương Quốc tế, mỗi năm trên Thế giới có khoảng 200 triệu người bị loãng xương, trong đó có khoảng 1/4 số phụ nữ trên 60 tuổi bị gãy xương do loãng xương. Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ Bỉ trên 65 tuổi là 15%, tỷ lệ này lên tới > 30% ở phụ nữ Anh trên 50 tuổi [54].
Người ta thấy ở Châu Âu, cứ 30 giây có một người bị gãy xương do loãng xương [77]. Dự báo tới năm 2050, toàn thế giới sẽ có khoảng 6,3 triệu trường hợp người gãy cổ xương đùi do loãng xương và 51% số này sẽ ở các nước Châu Á [20]. Tỷ lệ loãng xương của phụ nữ Châu Á sau mãn kinh là từ 17 đến 21% [20]. Tỷ lệ gãy xương do loãng xương ở Đông Nam Á chiếm 17,4% toàn thế giới [20].
Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của Hội Loãng xương Thành phố Hồ Chí Minh, ước tính có khoảng 2,8 triệu người Việt Nam hiện đang mắc phải căn bệnh này, và có trên 150.000 trường hợp gãy xương do LX. Theo thống kê về tình hình bệnh khớp tại Bệnh viện Bạch Mai trong 3 năm 1983-1985 thì khoảng 10,4% số bệnh nhân đến khám và điều trị vì thoái hóa khớp và tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh chiếm khoảng 13-15% [7]. Gãy xương do loãng xương không những để lại hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe mà chi phí điều trị rất tốn kém và lâu dài. Hàng năm, chính phủ Anh phải tiêu tốn 2,7 triệu đồng Euro cho điều trị gãy xương do loãng xương, còn ở Mỹ chi phí này lên tới 3,8 tỷ USD [2].
Chi phí cho loãng xương tương đương với chi phí cho bệnh tiểu đường và lớn hơn chi phí cho cả hai bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ cộng lại (ung thư vú và ung thư tử cung) [27], [77]. Tại Việt Nam hiện nay mỗi ca gãy cổ xương đùi điều trị tại bệnh viện cũng chi phí hết khoảng hơn 30 triệu đồng [32]. Tuy chi phí cho điều trị biến chứng của loãng xương rất lớn nhưng hiệu quả điều trị lại không cao: 20% trường hợp gãy cổ xương đùi do loãng xương có thể 3 tử vong trong vòng một năm sau đó, 30% bị tàn phế hoàn toàn, 40% phụ thuộc vào người khác và 80% không thể tái hòa nhập với cộng đồng [28], [36]. Gãy xương do loãng xương đang thực sự trở thành một gánh nặng cho chương trình chăm sóc sức khỏe của mỗi quốc gia.
Đây là một thách thức lớn với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt ở các nước Châu Á, nơi mà đa phần là các nước đang phát triển, đông dân và còn nhiều khó khăn về kinh tế, trong đó có nước ta. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tuổi thọ của con người ngày càng tăng lên, dự báo một sự gia tăng tỷ lệ loãng xương vì tuổi càng cao thì nguy cơ loãng xương càng nhiều [8], [7], [33]. Ngoài ra, cho đến nay điều trị loãng xương và gãy xương do loãng xương mới chỉ đạt được hiệu quả là làm giảm sự mất chất xương, tăng khối xương, chưa có biện pháp điều trị nào hồi phục lại được cấu trúc xương. Do đó, phát hiện sớm và điều trị dự phòng đối với loãng xương là vấn đề chủ yếu và cần thiết.
Phụ nữ sau mãn kinh là đối tượng có nguy cơ cao bị loãng xương vì hàm lượng estrogen trong máu giảm gây ảnh hưởng đến sự mất chất xương [26]. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu trước đây cho thấy lối sống, sinh hoạt, vận động thể lực, chế độ dinh dưỡng của phụ nữ sau mãn kinh, đặc biệt phụ nữ nông thôn chưa được quan tâm, chú trọng [15], [12]. Với câu hỏi nghiên cứu: Tỷ lệ loãng xương của phụ nữ mãn kinh ở nông thôn hiện nay như thế nào? mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và một số yếu tố nguy cơ ở đối tượng này ra sao? Chúng tôi lựa chọn địa bàn huyện Thanh Oai là một huyện đồng bằng thuần nông, nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam thành phố Hà Nội, có diện tích gần 129,6km2, với khoảng 146.600 người vào năm 2009 [38]. Tỷ lệ các hộ gia đình làm nghề nông nghiệp chiếm 60%, trong đó lao động nữ chiếm đa số.
Chưa có thống kê về các trường hợp gãy xương của phụ nữ mãn kinh trên 5 năm trong độ tuổi 50-70 song trong thực tế qua các đợt khám sức khỏe của Phòng Y tế, Trung tâm Y tế huyện tổ chức số phụ nữ lớn tuổi bị đau xương, đau khớp đến khám chiếm tỷ lệ không nhỏ. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn kinh trên 5 năm trong độ tuổi 50-70 tuổi tại xã Tam Hưng huyện Thanh Oai - Hà Nội năm 2012”. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Mô tả thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn kinh trên 5 năm trong độ tuổi 50-70 tại xã Tam Hưng - huyện Thanh Oai, Hà Nội năm 2012.
Mục tiêu cụ thể 2. Mô tả thực trạng loãng xương ở phụ nữ mãn kinh trên 5 năm trong độ tuổi 50-70 tại xã Tam Hưng - huyện Thanh Oai - Hà Nội, năm 2012. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở đối tượng nghiên cứu. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Sơ lƣợc về cấu trúc, chức năng và chu chuyển xƣơng 1. Cấu trúc và chức năng Bộ xương chiếm khoảng 15 – 17% trọng lượng cơ thể và được coi là ngân hàng khoáng chất của cơ thể. Xương là một mô liên kết đặc biệt có nhiều chức năng quan trọng như góp phần tạo nên dáng dấp cơ thể, nâng đỡ trọng lượng cơ thể, bảo vệ các bộ phận quan trọng trong cơ thể, và cùng với hệ thống cơ giúp cho chúng ta di chuyển dễ dàng. Xương còn là một “kho” lưu trữ chất khoáng như calci và phospho [16].
Cũng như các mô khác trong cơ thể, xương có những thành phần cơ bản bao gồm các tế bào xương (tạo cốt bào, huỷ cốt bào, tế bào dây), chất khuôn xương (bone matrix) với thành phần chủ yếu là chất keo Collagen (chiếm 90%) và các chất khoáng như calci,phosphat, cacbonat, Kali [16]. Dựa vào đặc điểm sinh lý, xương có thể chia làm hai loại: xương xốp (trabecular hay cancellous bones) và xương đặc (cortical bones). Tính chung, xương xốp chiếm khoảng 20% tổng khối lượng xương, và phần 80% còn lại là xương đặc. Xương xốp được cấu tạo bởi một mạng tế bào rất phức tạp và tinh vi.
Do đó, xương xốp có độ chuyển hóa cao, có diện tích rộng hơn, và dễ bị gãy hơn xương đặc. Chu chuyển của xương Xương không phải là mô chết, thực tế xương là một mô liên tục có chuyển hóa (metabolism) và đổi mới (remodeling). Cả hai quá trình này được điều hòa bởi các yếu tố tại chỗ và toàn thân. Một chu kỳ đổi mới xương bao gồm 3 giai đoạn: giai đoạn hủy xương (resorption), giai đoạn chuyển đổi (reversal) và giai đoạn tạo xương mới (formation).
Để hoàn thành quá trình tái tạo xương cần mất 3-4 tháng, sau đó là giai đoạn nghỉ dài trước khi bắt đầu một chu kỳ đổi mới xương tiếp theo [36]. 6 Lining cells Khởi đầu Tạo xương mới Kích hoạt osteoclast Hủy xương Kích hoạt osteoblast Hình 1. Sơ đồ chu kỳ đổi mới xƣơng Trong suốt cuộc đời của một người, xương cũ bị loại bỏ (tiêu xương) và xương mới được thêm vào bộ xương (hình thành). Trong những năm thời thơ ấu và thiếu niên, xương mới được thêm vào nhanh hơn so với xương cũ bị loại bỏ.
Kết quả là, xương trở nên lớn hơn, nặng hơn và dày đặc hơn. Quá trình phát triển cơ thể, khối lượng xương trải qua 3 giai đoạn: - Giai đoạn đầu: khối lượng xương tăng dần để đạt đến giá trị tối đa (gọi là khối lượng xương đỉnh), Peak Bone Mass – PBM. PBM được định nghĩa là khối lượng mô xương lúc kết thúc giai đoạn trưởng thành. Thời điểm đạt được PBM khác nhau giữa nam và nữ.
Tuy nhiên, đạt mức cao nhất ở tuổi trưởng thành vào khoảng 25 tuổi và duy trì khoảng 10 năm sau đó [1]. Đỉnh của khối xương chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có yếu tố dinh dưỡng [77]. - Giai đoạn hai là giai đoạn mất xương chậm: giai đoạn này phụ thuộc vào tuổi và giới, nữ thường ở tuổi mãn kinh và nam khoảng 52 tuổi. - Giai đoạn ba là giai đoạn mất xương nhanh: giai đoạn này xuất hiện ở nữ sau mãn kinh.
Theo Riggs, trong toàn bộ cuộc đời một phụ nữ sẽ mất khoảng 35% xương đặc và 50% xương xốp, nam giới mất khoảng 2/3 số này [77], [26]. Khái niệm và phân loại loãng xƣơng 1. Khái niệm Lịch sử nghiên cứu về loãng xương (LX) đã được nhiều tác giả nói đến, khái niệm về LX được nhắc đến ở nửa đầu thế kỷ 18 do Jean Georges Chretien Fediric Martin Lostein (1777 – 1835) nêu lên, từ đó những hiểu biết về LX có nhiều thay đổi. Vào những năm 1939 – 1940, Albright là người đầu tiên đưa ra khái niệm loãng xương là sự calci hóa không đầy đủ [26].
Sau đó, nhờ sự tiến bộ trong kỹ thuật thăm dò hình thái và tổ chức học của xương, các công trình nghiên cứu của Bordier và Meunier đưa ra định nghĩa: loãng xương là sự giảm toàn bộ khối lượng xương [26]. Sau đó, định nghĩa loãng xương chính thức được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thống nhất năm 1993 và sửa đổi năm 2001. Các khái niệm về loãng xương ban đầu chỉ nêu các loãng xương liên quan tới tình trạng mãn kinh ở phụ nữ, sau đó các nguyên nhân gây loãng xương sinh lý và bệnh lý, các yếu tố nguy cơ đã được nghiên cứu [26]. - Định nghĩa của WHO năm 2001 [69]: loãng xương đựoc đặc trưng bởi sự thay đổi sức mạnh của xương.
Sức mạnh này được đặc trưng bởi mật độ xương và chất lượng của xương. Chất lượng xương được đánh giá bởi các thông số: cấu trúc của xương, chu chuyển xương (turmove rate), độ khoáng hóa, tổn thương tích lũy (damage accumulation), tính chất của các chất cơ bản của xương. Trong các thông số này, chu chuyển xương đóng một vai trò quan trọng.