Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế đặt mục tiêu thu hút từ 18 đến 20 triệu lượt khách quốc tế mỗi năm, đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy tổng sản phẩm quốc nội. Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tỉnh Quảng Ninh khẳng định vị thế đầu tàu du lịch với danh lam thắng cảnh nổi tiếng toàn cầu, trong đó Vịnh Hạ Long đón trung bình từ 2,5 đến 3 triệu lượt khách quốc tế mỗi năm. Tỉnh sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên vượt trội với hơn 2.000 hòn đảo, chiếm 2/3 tổng số đảo của cả nước cùng đường bờ biển trải dài trên 250 km.

Tuy nhiên, hoạt động phát triển du lịch tại Quảng Ninh trong giai đoạn 2012 - 2016 bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: sự trùng lặp sản phẩm nghỉ dưỡng biển giữa các địa phương lân cận, ô nhiễm môi trường cục bộ, chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều và thời gian lưu trú của khách quốc tế còn ngắn. Trước áp lực cạnh tranh gay gắt từ các điểm đến trong khu vực Đông Nam Á, việc mở rộng không gian kinh tế thông qua liên kết vùng trở thành giải pháp tất yếu để tối ưu hóa nguồn lực.

Luận văn tập trung nghiên cứu cơ chế liên kết ngang giữa Quảng Ninh và các tỉnh, thành phố lân cận như Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang, Thái Nguyên cùng các hoạt động liên kết dọc theo chuỗi giá trị du lịch. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hợp tác, xác định các nút thắt thể chế và hạ tầng kỹ thuật, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút khách quốc tế. Việc hoàn thiện mô hình liên kết vùng dự kiến sẽ tạo đòn bẩy nâng tỷ lệ tăng trưởng khách quốc tế lưu trú dài ngày lên 12 - 15% mỗi năm và gia tăng mức chi tiêu bình quân của du khách nước ngoài lên trên 120 USD mỗi ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng nền tảng trên hệ thống lý thuyết kinh tế học cổ điển và hiện đại về phát triển không gian lãnh thổ. Trước hết, lý thuyết Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và Lợi thế so sánh của David Ricardo khẳng định mỗi địa phương cần chuyên môn hóa vào những sản phẩm có chi phí cơ hội thấp nhất để tối ưu hóa quy mô và nâng cao hiệu quả trao đổi thương mại.

Tiếp đó, lý thuyết Cực tăng trưởng của François Perroux và Jacques Boudeville được vận dụng nhằm giải thích cơ chế hình thành các hạt nhân kinh tế năng động. Khi các doanh nghiệp quy mô lớn tập trung tại một trung tâm sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa thu hút nguyên liệu, vốn và nhân lực từ các khu vực lân cận. Tuy nhiên, nếu không có sự điều tiết chính sách đồng bộ, hiệu ứng cực hóa sẽ lấn át, dẫn đến sự phân hóa phát triển sâu sắc như nhận định của nhà kinh tế học Gunnar Myrdal. Mô hình Trung tâm - Ngoại vi của John Friedmann và lý thuyết Liên kết ngược - Liên kết xuôi của Albert O. Hirschman bổ sung cơ sở khoa học để phân tích dòng chảy chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch.

Khung lý thuyết tổng hợp 5 khái niệm trọng tâm: Vùng kinh tế, Thể chế liên kết vùng, Cực tăng trưởng du lịch, Tài nguyên du lịch theo Luật Du lịch năm 2005 và Chuỗi giá trị dịch vụ lữ hành. Đồng thời, mô hình phân loại liên kết giữa các chủ thể kinh doanh theo khuôn khổ của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc ban hành năm 2001 được chuẩn hóa thành 4 dạng thức: liên kết dọc, liên kết ngang, liên kết ngược và liên kết xuôi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khung thời gian 2012 - 2016 với định hướng phân tích đến năm 2020. Dữ liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo thống kê ngành của Tổng cục Du lịch, Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh và các văn bản quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực nghiệm với cỡ mẫu 250 khách du lịch quốc tế tại các điểm đến trọng điểm như Vịnh Hạ Long, Yên Tử và khảo sát 45 nhà quản lý doanh nghiệp lữ hành, khách sạn từ 3 đến 5 sao trên địa bàn tỉnh.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu xác suất phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện, phân bổ theo các thị trường nguồn trọng điểm: Trung Quốc chiếm 35%, Hàn Quốc chiếm 25%, Châu Âu chiếm 20% và các nước thuộc khối ASEAN chiếm 15% tổng dung lượng mẫu. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác cơ cấu du khách quốc tế thực tế đến địa phương.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp bảng cân đối liên ngành đầu vào - đầu ra theo trường phái của Ronal E. Miller và phương pháp so sánh định lượng. Việc kết hợp các công cụ này cho phép lượng hóa chính xác chi phí giao thương, xác định hiệu ứng lan tỏa kinh tế giữa các tiểu vùng và kiểm định mức độ tương thích của hạ tầng kỹ thuật với nhu cầu của dòng khách quốc tế chất lượng cao. Toàn bộ quy trình xử lý dữ liệu và mô hình hóa không gian được thực hiện trong thời gian 12 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên du lịch tỉnh Quảng Ninh sở hữu mật độ tập trung cao hàng đầu cả nước nhưng phân bố thiếu cân đối về mặt không gian kinh tế. Tỉnh có diện tích trên 12.000 km2 với 50% diện tích là biển đảo, sở hữu Vịnh Hạ Long rộng 1.533 km2 gồm 1.969 hòn đảo, trong đó vùng lõi di sản thế giới rộng 434 km2 với 775 hòn đảo. Toàn tỉnh có hơn 600 di tích lịch sử văn hóa, nổi bật là khu di tích Yên Tử đón khoảng 2 triệu lượt khách hành hương mỗi năm. Dẫu vậy, dòng khách quốc tế lại tập trung đến 85% tại cụm vịnh Hạ Long - Tuần Châu, trong khi các tuyến đảo giàu tiềm năng sinh thái như Cô Tô, Quan Lạn, Minh Châu và Vịnh Bái Tử Long chỉ chiếm tỷ lệ đón khách quốc tế dưới 10%.

Thứ hai, hạ tầng giao thông kết nối liên vùng giai đoạn 2012 - 2016 còn nhiều điểm nghẽn kỹ thuật nghiêm trọng. Mạng lưới đường bộ toàn tỉnh có 5 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài 381 km nhưng phần lớn chỉ đạt tiêu chuẩn cấp III và cấp IV; 12 tuyến đường tỉnh có tổng chiều dài 301 km thì chỉ 51%, tương đương 154 km, đạt cấp III - IV. Hệ thống đường huyện có tổng chiều dài 764 km mới chỉ cứng hóa mặt đường được 60%, tương đương 455 km, còn lại 40%, tương đương 309 km, là đường cấp thấp, gây cản trở lớn cho việc vận chuyển khách du lịch bằng đường bộ liên tỉnh.

Thứ ba, sự trùng lặp sản phẩm du lịch giữa Quảng Ninh và các địa phương phụ cận lên tới hơn 65% tổng số chương trình tour chào bán. Khách quốc tế đến Quảng Ninh chủ yếu vẫn là các thị trường truyền thống gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Đông Nam Á và Tây Âu, nhưng thời gian lưu trú trung bình chỉ dao động từ 1,3 đến 1,5 ngày, mức chi tiêu bình quân thấp hơn 95 USD mỗi ngày do thiếu các tổ hợp vui chơi giải trí và dịch vụ kinh tế đêm mang tính liên kết vùng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ rào cản thể chế và sự thiếu vắng một cơ chế điều phối lợi ích kinh tế minh bạch giữa các địa phương. Tư duy cục bộ hành chính khiến mỗi tỉnh đều có xu hướng tự phát triển toàn bộ các loại hình dịch vụ, dẫn đến cạnh tranh triệt tiêu thay vì bổ trợ lẫn nhau. Dưới góc độ lý thuyết cực tăng trưởng, hiệu ứng cực hóa tại trung tâm Bãi Cháy đã hút cạn nguồn lực đầu tư cục bộ, trong khi hiệu ứng lan tỏa về phía các tiểu vùng biên giới và biển đảo phía Đông gần như chưa phát huy hiệu quả.

Khi đối chiếu với các kinh nghiệm quốc tế, điển hình như mô hình liên kết phát triển du lịch của Singapore với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, có thể thấy bài học giá trị: Singapore đã biến các điểm đến của các nước láng giềng thành tài nguyên mở rộng trong chuỗi tour quốc tế của mình. Tại Việt Nam, ý tưởng tổ hợp nghỉ dưỡng Đan Kia - Suối Vàng tại Đà Lạt được thông qua năm 1997 với sự tham gia của đối tác Singapore là một minh chứng về liên kết tận dụng tài chính và mạng lưới xúc tiến toàn cầu.

Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp qua biểu đồ tăng trưởng lượng khách giai đoạn 2012 - 2016 cho thấy một nghịch lý: lượng khách tăng trưởng bình quân trên 8% mỗi năm nhưng đường cong doanh thu thực tế từ lưu trú lại đi ngang. Phân tích ma trận liên kết theo bảng phân loại của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc năm 2001 chỉ ra rằng, hơn 75% mối quan hệ giữa các doanh nghiệp lữ hành Quảng Ninh với các tỉnh phía Bắc chỉ dừng lại ở dạng giao dịch ngắn hạn một lần, trong khi tỷ lệ liên doanh dài hạn chia sẻ rủi ro thị trường chiếm chưa đầy 15%.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thành lập Ban Điều phối Phát triển Du lịch Liên vùng Duyên hải phía Bắc trước quý IV năm 2018 dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh phối hợp cùng các tỉnh Hải Phòng, Hà Nội và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Cơ quan này chịu trách nhiệm ban hành quy chế chia sẻ lợi ích thuế, đồng bộ hóa quy hoạch không gian du lịch và cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý các thủ tục cấp phép vận tải khách du lịch liên tỉnh.

Thứ hai, hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối đa phương thức đồng bộ đến năm 2020. Tỉnh cần tập trung nguồn vốn ngân sách và vốn đối tác công tư để nâng cấp 100% mạng lưới 301 km đường tỉnh đạt chuẩn cấp III trở lên, hoàn thành mở rộng quốc lộ 18 đoạn Uông Bí - Bắc Ninh và Mông Dương - Hạ Long. Mục tiêu cụ thể là rút ngắn 40% thời gian di chuyển từ các trung tâm đón khách quốc tế lớn như sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay quốc tế Cát Bi đến các điểm du lịch trọng điểm của tỉnh.

Thứ ba, thiết kế và thương mại hóa các tuyến du lịch chuyên đề đặc thù liên tỉnh giai đoạn 2018 - 2022. Ngành du lịch cần phối hợp cùng các hiệp hội lữ hành xây dựng chuỗi sản phẩm Hành trình Di sản kết nối Hà Nội - Hải Dương - Bắc Giang - Yên Tử - Vịnh Hạ Long - Cát Bà, kết hợp tour du lịch tâm linh và nghỉ dưỡng sinh thái biển đảo cao cấp tại Vân Đồn, Cô Tô. Giải pháp này hướng tới kéo dài thời gian lưu trú trung bình của khách quốc tế từ 1,5 ngày lên 3,2 ngày vào năm 2022.

Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch theo Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN về Nghề Du lịch giai đoạn 2018 - 2020. Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh cần chủ trì triển khai đào tạo chuẩn nghề cho 5.000 nhân viên phục vụ khách sạn, nhà hàng và hướng dẫn viên quốc tế, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn đạt chuẩn quốc tế từ 45% lên 75% vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách du lịch: Nghiên cứu cung cấp khung thể chế, các căn cứ pháp lý và mô hình điều phối vùng giúp lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp cùng Sở Du lịch xây dựng chiến lược phát triển kinh tế du lịch liên vùng giai đoạn 2020 - 2030, tối ưu hóa nguồn lực đầu tư công.

Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp lữ hành, khách sạn và dịch vụ du lịch: Luận văn mang lại dữ liệu thị trường thực chứng và các mô hình chuỗi giá trị theo chuẩn quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp tái cấu trúc danh mục tour, cắt giảm 15 - 20% chi phí vận hành thông qua các hợp đồng liên kết cung ứng dịch vụ lưu trú và vận tải dài hạn.

Nhóm chuyên gia quy hoạch đô thị và không gian kinh tế: Cung cấp phương pháp luận phân tích bảng cân đối liên ngành đầu vào - đầu ra và lý thuyết cực tăng trưởng, hỗ trợ tính toán phương án phân bố các phân khu du lịch biển đảo, đô thị dịch vụ và mạng lưới giao thông bền vững.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Đề tài là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về quản trị kinh tế vùng, phương pháp nghiên cứu thực nghiệm định lượng kết hợp định tính và quy trình phân tích chuỗi giá trị du lịch quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Câu hỏi thường gặp

Liên kết vùng có vai trò quyết định như thế nào trong việc thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ninh? Liên kết vùng giúp phá bỏ ranh giới địa lý hành chính, kết hợp tài nguyên của hơn 2.000 hòn đảo tại Quảng Ninh với hệ thống di sản của Hà Nội, Hải Phòng và Bắc Giang. Nhờ đó, các địa phương tạo nên chuỗi tour đa dạng, giúp kéo dài thời gian lưu trú của khách quốc tế từ 1,5 ngày lên trên 3 ngày và nâng mức chi tiêu lên hơn 120 USD mỗi ngày.

Mô hình Cực tăng trưởng của François Perroux được vận dụng như thế nào trong nghiên cứu du lịch Quảng Ninh? Nghiên cứu định vị khu vực Vịnh Hạ Long - Bãi Cháy là hạt nhân cực tăng trưởng du lịch trung tâm. Theo lý thuyết, trung tâm này tạo hiệu ứng lan tỏa về vốn, công nghệ và dòng khách quốc tế tới các tiểu vùng ngoại vi như Vân Đồn, Cô Tô, Bình Liêu, thay vì chỉ tạo ra hiệu ứng cực hóa làm gia tăng chênh lệch phát triển.

Những nút thắt lớn nhất về hạ tầng giao thông kết nối du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2016 là gì? Điểm nghẽn nằm ở việc 381 km quốc lộ chủ yếu chỉ đạt cấp III - IV, 49% trong tổng số 301 km đường tỉnh chưa đạt tiêu chuẩn cấp cao và 40% đường huyện tương đương 309 km chưa được cứng hóa. Thực trạng này làm gia tăng chi phí vận chuyển liên tỉnh và giảm 30% mức độ hài lòng của du khách quốc tế.

Làm thế nào để hạn chế tình trạng trùng lặp hơn 65% sản phẩm du lịch giữa Quảng Ninh và các tỉnh lân cận? Các địa phương cần phân công chuyên môn hóa sản phẩm dựa trên lợi thế so sánh riêng biệt theo lý thuyết David Ricardo. Quảng Ninh tập trung vào nghỉ dưỡng biển đảo cao cấp và di sản Vịnh Hạ Long, Bắc Giang và Hải Dương phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp và văn hóa truyền thống, còn Hải Phòng khai thác thế mạnh ẩm thực và cảng biển.

Tiêu chuẩn nghề du lịch MRA-TP đóng vai trò gì đối với nhân lực du lịch Quảng Ninh? Thỏa thuận MRA-TP giúp chuẩn hóa các kỹ năng nghề khách sạn và lữ hành của Quảng Ninh tương thích với 10 quốc gia ASEAN. Việc đào tạo chuẩn hóa cho 5.000 lao động giúp nâng tỷ lệ nhân sự đạt chuẩn quốc tế lên 75% vào năm 2020, tạo môi trường giao tiếp chuyên nghiệp và thân thiện cho du khách nước ngoài.

Kết luận

• Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về liên kết vùng từ trường phái kinh tế học cổ điển đến lý thuyết cực tăng trưởng và chuỗi giá trị du lịch hiện đại. • Bức tranh thực trạng du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2016 được phản ánh chân thực với hệ thống số liệu cụ thể về tài nguyên, thị trường và kết cấu hạ tầng giao thông 381 km quốc lộ. • Nghiên cứu chỉ rõ các nút thắt cốt lõi về thể chế điều phối, tư duy cục bộ địa phương và nguy cơ hiệu ứng cực hóa làm triệt tiêu động lực phát triển của các tiểu vùng. • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá đề xuất lộ trình hành động rõ ràng về thể chế, hạ tầng, sản phẩm và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đến năm 2020. • Kế hoạch hành động tiếp theo đòi hỏi chính quyền tỉnh cùng cộng đồng doanh nghiệp khẩn trương triển khai các dự án liên kết sản phẩm chuyên đề trong giai đoạn 12 đến 24 tháng tới.

Các nhà quản lý chính sách và cộng đồng doanh nghiệp lữ hành hãy chủ động ứng dụng các khuyến nghị từ công trình nghiên cứu này để xây dựng những liên minh chiến lược bền vững, đưa du lịch Quảng Ninh bứt phá thành trung tâm du lịch quốc tế đẳng cấp hàng đầu khu vực.